Lịch sử Việt Nam

Dọc theo con đường Cái Quan của Đông Dương năm 1931

Đây là bài viết về Việt Nam và Đông Dương đầu tiên trên tạp chí National Geographic Magazine, tháng Tám năm 1931 về con đường Cái Quan của Đông Dương. 
24/11/2020 06h:50 771

Bài viết này gồm nhiều ảnh chụp rất quý hiếm, trong đó có 33 hình đen trắng và 28 ảnh chụp màu tự nhiên. Đó là những tấm ảnh màu tự nhiên đầu tiên về Việt Nam xuất hiện trên một tạp chí bằng Anh ngữ ở phương Tây. Tác giả bài viết, W. Robert Moore, cũng là người chụp ảnh.

Bản đồ đông dương trông giống như một bà lão dân bộ lạc

Lấy giấy cắt hình, theo đường ranh giới của Đông Dương thuộc Pháp, dán nó lên trên một nền màu trung tính, và bạn có một hình biếm họa khái quát mặt nhìn nghiêng của một bà lão bộ tộc tại các vùng đồi núi của Đông Dương cúi đầu lên phía đông nước Xiêm.

Bạn đang xem: Dọc theo con đường Cái Quan của Đông Dương năm 1931

Bản đồ đông dương trông giống như một bà lão dân bộ lạc. Sau khi tiến vào Campuchia bằng ngả Bangkok, tác giả đã đi theo xa lộ xe hơi chính yếu tại thuộc địa của Pháp, đường Thuộc địa số 1, với các chuyến du hành rẽ ngang đến các bộ lạc miền núi và đến biển.
Bản đồ Đông Dương trông giống như một bà lão dân bộ lạc. Sau khi tiến vào Campuchia bằng ngả Bangkok, tác giả đã đi theo xa lộ xe hơi chính yếu tại thuộc địa của Pháp, đường Thuộc địa số 1, với các chuyến du hành rẽ ngang đến các bộ lạc miền núi và đến biển.

Xứ Lào, nơi một số lượng lớn các dân tộc miền núi sơ khai sinh sống, tạo thành khuôn mặt của bà ta, với phần cổ nhăn nhúm và bộ ngực lép; tuy nhiên, cái mũi, nhờ phép “giải phẫu thẩm mỹ” của hiệp ước ranh giới, là một đặc điểm phi-Mông Cổ của bà và thọc sâu vào nước Xiêm La. Xứ Bắc Kỳ tạo thành một chiếc mũ cao, chóp nhọn, được trang trí với các chùm lông thú, chuỗi hạt và các đồ trang sức khác theo đúng kiểu mũ đội đầu của các phụ nữ bộ lạc Kaw [? thổ dân da đỏ tại tiểu bang Oklahoma, Hoa Kỳ, chú của người dịch]. Duyên hải An Nam (Trung Kỳ) cấu thành phần gáy và uốn vào trong, trong khi xứ Campuchia và Nam Kỳ tạo thành các bộ phận của thân thể co mình lại khi bà ta ngồi xổm với hai đầu gối chĩa thẳng lên trời, giống như người dân bản xứ tại Viễn Đông rất ưa ngồi như thế.

Nhưng xa lộ mà những người vẽ bản đồ đã phác họa xuyên suốt cơ thể người phụ nữ bản đồ của chúng ta, nối dài cột xương sống đến chóp mũ cao của bà, cũng gợi ý về một hành trình bằng xe gắn động cơ - một thách thức không thể bị gạt bỏ dễ dàng.

Khoảng 1600 dặm Anh đường Thuộc địa số 1 luồn lách qua các khu rừng rậm rạp, vô số những cánh đồng lúa rộng lớn, lên xuống những ngọn đồi dọc theo bờ biển đẹp như tranh vẽ, từ vùng biên cương với Xiêm La cho tới Cửa Ải Trung Hoa.

Mặc dù con đường này mới được xây dựng tương đối gần đây theo chương trình thuộc địa Pháp, phần lớn chỉ là mở rộng và tu bổ Con Đường Cái Quan cũ. Con đường này từng ghi dấu quyền lực và văn hóa của các hoàng đế Trung Hoa, trở nên tập trung hóa tại Triều đình Đế quốc An Nam ở Huế. Dọc con đường này cũng có những ngọn tháp hoang phế của người Chàm cổ xưa, và trên một khúc rẽ ngắn từ đoạn cuối phía dưới của nó mọc lên các đền đài bằng đá chạm khắc nguy nga của Angkor, do người Khmer xây dựng trong khoảng từ thế kỷ thứ 9 đến thế kỷ 13.

Các nền văn minh Chàm và Khmer đã sụp đổ từ lâu, và trong nửa sau của thế kỷ vừa qua [thế kỷ 19, chú của người dịch], người Mãn Châu đã buộc phải từ bỏ bất kỳ sự tuyên xác nào về quyền chủ tể trên ngôi vua An Nam khi người Pháp thiết lập các chế độ bảo hộ tại vài xứ.

Nhưng dọc theo xa lộ này, đời sống hàng ngày đong đầy những ký ức lịch sử đang diễn ra như thế nào?

Tôi đã đến tận nơi để nhìn ngắm.

Đàn ông và đàn bà ăn mặc và để tóc giống nhau

Trên hành trình ngoạn cảnh, chúng tôi đã lên một chuyến tàu hỏa sáng sớm rời Bangkok, và vào khoảng giữa trưa, đến Aranya Prades, đầu mút đường ray tại vùng biên cương miền đông nước Xiêm La, từ đó khởi đầu chuyến du hành bằng xe gắn động cơ của chúng tôi theo suốt chiều dài Con Đường Cái Quan lên tới Cửa ải Trung Hoa.

Băng qua biên giới, và sau khi hoàn tất các thủ tục thông hành tại một tiền đồn nhỏ của Pháp tại Poipet, chúng tôi phóng tới làng Sisophon.

Gần Sisophon, chúng tôi gặp một nhóm người Campuchia vô cùng vui vẻ, mặc những chiếc áo choàng màu sáng rực, khăn quàng dài, sặc sỡ, và sampot, loại váy buộc túm bên dưới được tạo thành từ một tấm vải dài quấn quanh thân mình, với các mép vải khép lại ở giữa đôi chân và được thắt chặt ở phía sau. Rất khó phân biệt đàn ông với đàn bà, bởi y phục của họ và kiểu tóc bới ngược, bồng lên trên trán, cắt sát chân tóc một cách đồng nhất, được bôi dầu dừa bóng mượt, trông quá giống nhau.

Họ đang trở về từ một buổi lễ hội ở chùa, phần lớn đi bộ, nhưng một số trong họ chen chúc giữa các nhạc khí trong những chiếc kiệu không mui đặt trên ba con voi đang lê bước.

Bóng dáng của sự vinh quang đã mất bám lấy các ngọn tháp điêu khắc của Ankor Wat. Di tích ngôi đền Khmer vĩ đại ở trong một tình trạng bảo quản xuất sắc, mặc dù nó đã bị nhấn chìm trong rừng rậm qua nhiều thế kỷ. Một mô hình thu nhỏ của phần kiến trúc chính yếu của khu đền Angkor Wat đã được dựng lên cho Triển lãm Thuộc địa Quốc tế tại Paris.
Bóng dáng của sự vinh quang đã mất bám lấy các ngọn tháp điêu khắc của Ankor Wat. Di tích ngôi đền Khmer vĩ đại ở trong một tình trạng bảo quản xuất sắc, mặc dù nó đã bị nhấn chìm trong rừng rậm qua nhiều thế kỷ. Một mô hình thu nhỏ của phần kiến trúc chính yếu của khu đền Angkor Wat đã được dựng lên cho Triển lãm Thuộc địa Quốc tế tại Paris.

Ở những nơi khác tại Campuchia, chúng tôi nhìn thấy người dân mang những tượng Phật mới đúc đến các ngôi chùa trong các buổi diễu hành rực rỡ mừng năm mới; và khi một thanh niên tập tu thành tu sĩ hay một dân làng sắp được thiêu xác, dịp này tạo nên một màn trình diễn nhiều màu sắc của những chiếc lọng và quần áo.

Các kịch sĩ biểu diễn trên sân phía trước đền Angkor Wat. Điệu bộ của các vũ công Campuchia ngày nay rất giống với điệu bộ của các chị em thuở ban sơ của họ, những nữ thần Apsara được chạm khắc trên các bức tường của các ngôi đền ở Angkor tám thế kỷ trước.
Các kịch sĩ biểu diễn trên sân phía trước đền Angkor Wat. Điệu bộ của các vũ công Campuchia ngày nay rất giống với điệu bộ của các chị em thuở ban sơ của họ, những nữ thần Apsara được chạm khắc trên các bức tường của các ngôi đền ở Angkor tám thế kỷ trước.
Đông Dương là nơi tụ hội của nhiều tín ngưỡng tôn giáo. Tại các thời điểm khác nhau, trong các nhóm chủng tộc của đất nước này, đạo Bà La Môn, Phật giáo, đạo Tự nhiên (Naturism), Khổng học, Vật linh giáo, một số phân nhánh Đạo Hồi, và sau này, Thiên chúa giáo, đã tìm được các tín đồ. Ảnh trái, người dân Campuchia đang khiêng hai tượng Đức Phật trong một cuộc hành hương mừng năm mới đến Đền Angkor Wat. Ảnh phải, phẩm phục của nhà sư An Nam, ngồi trên ghế, cùng hai nhà sư khác tại Huế, cho thấy Phật Giáo đã đến qua ngả Trung Hoa.
Đông Dương là nơi tụ hội của nhiều tín ngưỡng tôn giáo. Tại các thời điểm khác nhau, trong các nhóm chủng tộc của đất nước này, đạo Bà La Môn, Phật giáo, đạo Tự nhiên (Naturism), Khổng học, Vật linh giáo, một số phân nhánh Đạo Hồi, và sau này, Thiên chúa giáo, đã tìm được các tín đồ. Ảnh trái, người dân Campuchia đang khiêng hai tượng Đức Phật trong một cuộc hành hương mừng năm mới đến Đền Angkor Wat. Ảnh phải, phẩm phục của nhà sư An Nam, ngồi trên ghế, cùng hai nhà sư khác tại Huế, cho thấy Phật Giáo đã đến qua ngả Trung Hoa.

Người Campuchia ngày nay, giống như các thân nhân thời cổ của họ, người Khmer, những người được khắc họa trong các tượng phù điêu của phế tích Angkor, ưa thích các lễ hội và những đám rước lộng lẫy và mê gõ nhịp suốt đêm trên những chiếc cồng và trống.

Xem thêm: Người Campuchia ghét Việt Nam?

Tại Sisophon, chúng tôi rẽ khỏi đường Thuộc địa số 1 bằng phẳng và đi vào con lộ trực tiếp dẫn đến Angkor. Độ dốc cho một con lộ rải đá được nâng cao lên xuyên khắp các đồng bằng, nhưng những chiếc xe hơi vẫn còn phải đánh liều đi theo con đường khúc khuỷu băng ngang các cánh đồng lúa, tung xóc bên trên các mô đất và bị sa lầy vào các hố bùn.

Với chút loạng choạng ở một vũng lầy, chúng tôi đã tới Angkor tối muộn hôm đó. Từ thủ đô xứ Xiêm La hiện đại đến kinh đô của người Khmer cổ xưa mất một ngày - sự kỳ diệu của việc vận chuyển bằng đường sắt và xe hơi hiện đại là như thế!

Đôi khi cũng có máy bay chuyên chở hành khách trên các đường hàng không mở rộng, giờ đây giúp cắt thời lượng này xuống còn ba giờ ngắn ngủi, trong khi vài năm trước đây, một hành trình như thế đòi hỏi nhiều tuần gắng sức mệt mỏi nếu đi bộ hay cưỡi voi xuyên qua các khu rừng không người cư trú.

Ấn tượng đầu tiên về Angkor

Chúng tôi lần đầu thoáng nhìn khu Đền Angkor trong vẻ quyến rũ hiếm hoi của buổi tối khi ánh sáng từ đêm trăng tròn tràn ngập những ngọn tháp bằng đá vĩ đại vươn cao lên trên khu rừng bao quanh.

Chính năm tháp đồ sộ này đã chạm vào cái nhìn sững sờ của nhà thiên nhiên học người Pháp, ông Mouhot, khi ông tình cờ bước vào miền đó khoảng sáu mươi năm trước đây và đã khám phá cứu vớt khu Angkor ra khỏi một lăng tẩm của cây cỏ rừng rậm.

Đã có nhiều điều được viết về quần thể di tích Angkor kể từ thời điểm đó, nhưng nó chưa hề thực sự được miêu tả; bởi điều đó là bất khả thi. Người ta phải nhìn tận mắt và kinh ngạc. Bất luận là dưới ánh trăng, trong ánh nắng tra khảo của ban trưa, hay vào lúc chiều tối, khi hàng đàn dơi sải cánh bay ra như những làn khói từ các ngọn tháp tối đen của nó, Angkor hút hồn con người với bùa mê của nó về sự kỳ vĩ.

Nhưng sự hấp dẫn của nó không hoàn toàn nằm ở sự đồ sộ. Tôi đã gặp một học giả nổi tiếng người Pháp là người đã thực hiện một loạt hình chụp để dùng làm khuôn mẫu trong công việc đan móc hàng ren và dệt thảm, các mạng gân trang trí phức tạp và các hoa văn tinh tế được chạm khắc bằng dùi đục dưới bàn tay của các nghệ nhân Khmer thật tuyệt diệu biết bao trong từng chi tiết. Đền Angkor là kết quả của niềm đam mê tuôn trào về nghệ thuật và tôn giáo, tương tự như lòng nhiệt huyết mà tại các vùng đất khác đã tạo ra các đại giáo đường đẹp đẽ nhất của thế giới.

Một tượng đài bằng đồng, đá, và ngói tại Phnom Penh kỷ niệm việc giành lại các tỉnh đã mất của Campuchia. Ba tượng bên phải tượng trưng cho các tỉnh Siem Reap (Angkor), Sisophon và Battambang đang tuyên thệ trung thành với vị vua mới của họ, Sisowath của Campuchia, sau khi Xiêm La từ bỏ cương vị chúa tể thông qua một hiệp ước với Pháp năm 1907.
Một tượng đài bằng đồng, đá, và ngói tại Phnom Penh kỷ niệm việc giành lại các tỉnh đã mất của Campuchia. Ba tượng bên phải tượng trưng cho các tỉnh Siem Reap (Angkor), Sisophon và Battambang đang tuyên thệ trung thành với vị vua mới của họ, Sisowath của Campuchia, sau khi Xiêm La từ bỏ cương vị chúa tể thông qua một hiệp ước với Pháp năm 1907.
Các ngôi sao sân khấu của triều đình Campuchia. Các vai ấn tượng thường do phụ nữ thủ diễn. Giống như tại Xiêm La và vùng Đông Ấn Độ, các chủ đề phần lớn được tuyển chọn từ truyện dân gian hay từ tập sử thi thiêng liêng của Ấn Độ, Ramayana. Việc diễn xuất chủ yếu bao gồm một loạt các điệu bộ.
Các ngôi sao sân khấu của triều đình Campuchia. Các vai ấn tượng thường do phụ nữ thủ diễn. Giống như tại Xiêm La và vùng Đông Ấn Độ, các chủ đề phần lớn được tuyển chọn từ truyện dân gian hay từ tập sử thi thiêng liêng của Ấn Độ, Ramayana. Việc diễn xuất chủ yếu bao gồm một loạt các điệu bộ.
Các viên chức nhà nước tại Phnom Penh với y phục sáng chói. Họ tới Hoàng cung để bày tỏ sự kính trọng và lòng trung thành của họ với Quốc vương Monivong của Campuchia nhân dịp năm mới, vào đầu tháng Tư.
Các viên chức nhà nước tại Phnom Penh với y phục sáng chói. Họ tới Hoàng cung để bày tỏ sự kính trọng và lòng trung thành của họ với Quốc vương Monivong của Campuchia nhân dịp năm mới, vào đầu tháng Tư.
Các binh sĩ Campuchia cho thấy ảnh hưởng của các huấn luyện viên người Pháp. Quân phòng vệ triều đình của Vua Monivong đang chờ Trú sứ Pháp tới dự buổi tiếp tân mừng năm mới. Ngoài các hoạt động chính thức, các buổi diễn kịch, thi đấu đấm bốc và các hoạt động công cộng khác là đặc trưng của mùa lễ hội.
Các binh sĩ Campuchia cho thấy ảnh hưởng của các huấn luyện viên người Pháp. Quân phòng vệ triều đình của Vua Monivong đang chờ Trú sứ Pháp tới dự buổi tiếp tân mừng năm mới. Ngoài các hoạt động chính thức, các buổi diễn kịch, thi đấu đấm bốc và các hoạt động công cộng khác là đặc trưng của mùa lễ hội.

Nước lũ và đồng lúa

Đã có nhiều phỏng đoán về lý do tại sao dân Khmer rút khỏi kinh đô tráng lệ của họ. Không ai biết. Nhưng, một lịch sử phương Đông, với sự bảo đảm tuyệt đối về sự thật, nói rằng họ rời đi vì tình trạng nghẽn bùn ở các cửa sông Mekong khiến cho trong mùa lụt, các dòng nước bị đẩy ngược lại, tràn ngập kinh đô và biến các đồng lúa thành đầm lầy vô dụng. Liệu điều này có phải là nguyên do của sự biến mất của dân tộc Khmer hay không, người ta phải nhìn dòng nước của sông Mekong dâng cao hàng năm trong các tháng mưa mùa hè của vùng gió nồm tây nam.

Cách một quãng ngắn về phía tây và nối dài xuống phía nam từ Angkor là một hồ trữ nước tự nhiên rộng lớn, Tonlé Sap, hay Biển Hồ, trải trên một diện tích khoảng 800 dặm vuông và vươn tới độ sâu 40 bộ Anh (feet) khi dòng nước lũ của sông Mekong chảy ngược tới Bras du Lac (Nhánh của [Biển] Hồ), một luồng nước lớn chảy đến hồ từ Phnom Penh.

Sau đó, khi nước sông Mekong rút xuống vào cuối năm, nhánh sông Bras du Lac đổi ngược dòng chảy, và tuôn đổ một lần nữa vào con sông. Nếu không có sự điều tiết tự nhiên này của luồng nước đổ xuống con sông Mekong vĩ đại, những khu vực bao la của miền hạ Campuchia và Nam Kỳ (Cochin-China) sẽ phải gánh chịu nạn lụt giống như tình trạng ngập lụt mà sử gia đã quy kết cho các vùng đất ruộng Khmer ban sơ.

Các hậu duệ Campuchia ngày nay đặt kinh đô của họ tại Phnom Penh, nhưng không thể nào có được sự lộng lẫy đặc trưng cho thủ phủ tráng lệ của tổ tiên họ. Nơi đây có sinh hoạt triều đình, nhưng bàn tay của người Pháp đặt cạnh tay lái để hướng dẫn. Việc canh tác lúa gạo vẫn là mối quan tâm chính yếu của người dân, như nó đã từng như thế trong thời đại của người Khmer.

Có những cánh đồng lúa, rải rác xen lẫn với các mảnh rừng hoang, suốt dọc con đường từ Angkor đến Phnom Penh - đồng bằng phẳng tắp dài gần 200 dặm nằm phơi mình khô cằn dưới những đợt hơi nóng điên người và các ảo giác thoáng qua khi chúng tôi tới thăm vào tháng Tư. Và cũng có những cánh đồng lúa khác, thỉnh thoảng xen lẫn các mảnh đất trồng ngô và thuốc lá, trong suốt phần còn lại của con đường tới Sài Gòn - 150 dặm nữa của đồng bằng phù sa nóng như thiêu đốt, khi chúng tôi đi theo đường Thuộc địa số 1.

Trong những tháng theo sau sự mở màn của mùa mưa, trong tháng Năm hay tháng Sáu, dải đất dồng bằng bao la này là một câu chuyện của sự phì nhiêu được viết bằng màu xanh ngọc bích.

Trong thực tế, toàn thể chiều dài của Con Đường Cái Quan là một câu chuyện về hạt gạo, và mọi giai đoạn của sự canh tác có thể được nhìn thấy cùng một lúc.

“Trung Kỳ (An Nam) là chiếc đòn gánh nối liền hai thúng gạo, Bắc Kỳ (Tonkin) và Nam Kỳ (Cochin-China)”, người Trung Hoa nói như vậy về miền Trung Kỳ hẹp bề ngang, nhiều núi đồi, trải dài hàng dặm đường dường như bất tận giữa các đồng lúa bằng phẳng như sàn nhà của thung lũng sông Hồng ở Bắc Kỳ và những cánh đồng của vùng châu thổ sông Mekong.

Xem thêm: Nước lũ ở xứ An Nam thế kỷ 17 qua ghi chép của học giả phương Tây

Nhưng Trung Kỳ cũng có nhiều vùng trồng lúa gạo phì nhiêu trên nền thung lũng hẹp, bị kẹp giữa các ngọn núi và biển và bởi vị trí độc đáo của nó nằm trên bờ biển uốn cong, các khu vực phía bắc và trung phần có đủ nước từ cả hai mùa mưa để trồng được hai vụ mỗi năm. Dù vậy, các vụ mùa này chưa đủ để nuôi cho năm triệu miệng đói ăn của nó.

Các đồng lúa của Đông Dương chiếm hơn 13.5 triệu mẫu
Các đồng lúa của Đông Dương chiếm hơn 13.5 triệu mẫu
Cá và gạo nuôi sống người dân Đông Dương. Vô số những chiếc thuyền xuôi ngược các con sông, thả lưới đi tìm thực phẩm. Những người bên tay phải đang trồng lúa. Chiếc cầu dài đằng sau là một trong nhiều cây cầu mà người Pháp đã làm trong những năm gần đây để thay cho những chiếc phà thô sơ.
Cá và gạo nuôi sống người dân Đông Dương. Vô số những chiếc thuyền xuôi ngược các con sông, thả lưới đi tìm thực phẩm. Những người bên tay phải đang trồng lúa. Chiếc cầu dài đằng sau là một trong nhiều cây cầu mà người Pháp đã làm trong những năm gần đây để thay cho những chiếc phà thô sơ.
Thuyền bè hỗn độn neo đậu tại bờ sông Phnom Penh. Những chiếc thuyền tam bản Trung Hoa, thuyền nhà, thuyền đánh cá, xuồng và ngay cả tàu hơi nước đều thả neo dọc bờ sông. Ở hậu cảnh, một mũi đất nhô ra đánh dấu giao điểm của nhánh Bras du Lac với sông Mekong.
Thuyền bè hỗn độn neo đậu tại bờ sông Phnom Penh. Những chiếc thuyền tam bản Trung Hoa, thuyền nhà, thuyền đánh cá, xuồng và ngay cả tàu hơi nước đều thả neo dọc bờ sông. Ở hậu cảnh, một mũi đất nhô ra đánh dấu giao điểm của nhánh Bras du Lac với sông Mekong.
Xe cút kít vẫn còn di chuyển trên đường Cái Quan cũ. Chúng không hề được bôi dầu trơn, kêu cọt kẹt và rên la ầm ỹ khi được đẩy đi. Người đàn ông bên phải vác một lưỡi cày thô sơ trên vai.
Xe cút kít vẫn còn di chuyển trên đường Cái Quan cũ. Chúng không hề được bôi dầu trơn, kêu cọt kẹt và rên la ầm ỹ khi được đẩy đi. Người đàn ông bên phải vác một lưỡi cày thô sơ trên vai.
Quả cau được bày bán rất nhiều. Người phương Đông nhai quả cau cùng với một số loại lá, thuốc lá, vôi và các thành phần khác. Quả cau khiến nước bọt có màu đỏ như máu, và nếu dùng thường xuyên, nó có thể nhuộm đen hàm răng.
Quả cau được bày bán rất nhiều. Người phương Đông nhai quả cau cùng với một số loại lá, thuốc lá, vôi và các thành phần khác. Quả cau khiến nước bọt có màu đỏ như máu, và nếu dùng thường xuyên, nó có thể nhuộm đen hàm răng.
Múc nước uống hàng ngày và giặt giũ từ sông Siem Reap. Ảnh chụp bờ sông Siem Reap, ngăn đôi ngôi làng cùng tên và đổ vào Biển Hồ (Tonlé Sap). Trong mùa nước lên cao, dòng sông có thể đưa các du khách đến Angkor bằng thuyền.
Múc nước uống hàng ngày và giặt giũ từ sông Siem Reap. Ảnh chụp bờ sông Siem Reap, ngăn đôi ngôi làng cùng tên và đổ vào Biển Hồ (Tonlé Sap). Trong mùa nước lên cao, dòng sông có thể đưa các du khách đến Angkor bằng thuyền.
Gặt lúa tập thể. Hai phương pháp tuốt lúa được áp dụng phổ biến tại An Nam. Thóc hoặc được mang đến một sân tập trung để được giã bằng đá, hoặc các bó lúa được đập mạnh vào mặt trong những chiếc thúng lớn bằng tre. Mọi người đến trợ lực.
Khi bóng đổ dài vào cuối buổi cày trong ngày. Việc sử dụng chiếc bừa thô sơ do trâu kéo này tượng trưng cho các phương pháp canh tác nguyên sơ được áp dụng tại Đông Dương để sản xuất khoảng 6 triệu tấn gạo mỗi năm.
Khi bóng đổ dài vào cuối buổi cày trong ngày. Việc sử dụng chiếc bừa thô sơ do trâu kéo này tượng trưng cho các phương pháp canh tác nguyên sơ được áp dụng tại Đông Dương để sản xuất khoảng 6 triệu tấn gạo mỗi năm.
Dẫn nước từ xa để tưới tiêu. Dưới sức đạp liên tục của một vài người, bánh xe quay chậm chạp, múc nước lên cho những cánh đồng khô hạn.

Thực dân Pháp thoải mái như ở quê nhà tại thành phố Sài Gòn hiện đại

Riêng xứ Nam Kỳ trồng được hơn 2 triệu tấn gạo mỗi năm, và Chợ Lớn, phố người Tàu ngay ngoại vi Sài Gòn, chủ yếu chuyên việc xay lúa.

Sài Gòn là một thành phố tiến bộ với nhiều cửa hàng hiện đại, đẹp đẽ và các công thự kiêu kỳ. Ban ngày, đường phố và bến tàu nhộn nhịp với hoạt động của muôn hình vạn trạng các loại phương tiện giao thông - xe có gắn động cơ, xe vận tải, xe điện, xe kéo tay, xe đạp, xe bò kêu kẽo kẹt và các phu cu-li khuân vác. Tuy nhiên, nhiều nơi buôn bán đóng cửa trong những giờ trưa nóng bức và mở cửa lại từ 4 giờ chiều đến 7 giờ tối sau khi sự mệt mỏi giành được một chiến thắng nhỏ nhoi.

Buổi tối, các bàn cà phê được đẩy ra trên lối đi bộ, và từ 6 giờ chiều đến giờ ăn tối, các thực dân Pháp tụ tập để nhấm nháp những ly rượu khai vị và thoải mái trò chuyện như thể họ đang ở trên quê hương mình.

Sau bữa tối, vào mùa diễn kịch, họ có thể tham dự những buổi trình diễn tuyệt hảo tại nhà hát thành phố tráng lệ hoặc đi xem chiếu bóng.

Người Pháp ở Sài Gòn chẳng thiếu thốn thứ gì mặc dù họ đang sống ở thuộc địa.

Các văn phòng của Thống đốc Nam Kỳ tọa lạc trong thành phố, và Toàn quyền Đông Dương trú ngụ sáu tháng tại Sài Gòn và sáu tháng tại Hà Nội.

Dinh toàn quyền tại Sài Gòn. Mặc dù trung tâm hành chính của Đông Dương thuộc Pháp đã được chuyển từ Sài Gòn ra Hà Nội vào năm 1902, viên Toàn quyền vẫn trú ngụ ở đây vài tháng mỗi năm.
Dinh toàn quyền tại Sài Gòn. Mặc dù trung tâm hành chính của Đông Dương thuộc Pháp đã được chuyển từ Sài Gòn ra Hà Nội vào năm 1902, viên Toàn quyền vẫn trú ngụ ở đây vài tháng mỗi năm.

Xem thêm: 20 bức ảnh hiếm về Sài Gòn năm 1948 qua ống kính của Jack Birns

Một buổi sáng, trong khi một số người dân Sài Gòn còn đang uống những ly cà phê nhỏ giọt và nhai những ổ bánh mì Pháp cứng giòn không phết bơ, còn những người khác đang chuẩn bị cho chuyến đi của Vua và Hoàng hậu nước Xiêm La rời khỏi Sài Gòn sau cuộc viếng thăm, chúng tôi cũng rời Sài Gòn để đi Phan Thiết và trạm nghỉ mát đồi núi Đà Lạt.

Đi theo Con đường Cái Quan trải đá mịn theo hướng đông và hướng bắc từ thành phố, chúng tôi sớm băng qua các đồn điền cao su rộng lớn xen với những khóm dừa và cây bông gòn rải rác.

Nhiều đồn điền đã sản xuất nhựa mủ trong vài năm qua; các đồn điền khác sẽ sớm đạt tới giai đoạn trích mủ. Vài đồn điền mới được khai khẩn gần đây, và tại nhiều nơi khác, các vùng đất mới đang được cắt ra khỏi rừng rậm và chuẩn bị cho việc trồng trọt trong tương lai.

Cao su được chở đến Singapore và Pháp với khối lượng gần như nhau, trong khi một lượng nhỏ được chuyển tới Nhật Bản.

Sau khi men theo bìa các đồn điền, các cánh đồng lúa khô hạn, các khu vực rừng rậm và đất chưa được khai phá, chúng tôi tiến dần đến xã Phan Thiết, được xây dựng trên những đụn cát lộng gió dọc theo bờ biển.

Hũ dùng để đựng nước mắm. Nghề cá phát triển của Phan Thiết cung cấp nguyên liệu cho một thứ nước chấm nặng mùi mà người dân bản địa Đông Dương xem là một mỹ vị đậm đà để ăn với cơm.
Hũ dùng để đựng nước mắm. Nghề cá phát triển của Phan Thiết cung cấp nguyên liệu cho một thứ nước chấm nặng mùi mà người dân bản địa Đông Dương xem là một mỹ vị đậm đà để ăn với cơm.

Phan Thiết quảng cáo về ngành công nghiệp của mình và phát triển nó một cách mạnh mẽ. Ngành kinh doanh của xã là đánh cá. Xã này nổi tiếng với nghề chế biến nước mắm có mùi khắm được chuyên chở tới khắp nơi tại Đông Dương như một thứ gia vị cho thực đơn kiểu gạo-và-cà ri của người dân. Nó là một sản phẩm nặng mùi, nhưng nếu ta có thể chịu được mùi đủ lâu để thăm viếng các thuyền đánh cá dọc theo bến cảng, ta có thể nhìn thấy nó được đóng vào các hũ nhỏ và chất lên tàu chở đi. Những con thuyền cũng rất thú vị bởi trên mũi thuyền có đặt các bàn thờ thần linh được sơn màu sặc sỡ, trên đó bày các đồ cúng gồm hương, hoa và nến.

Các ngư phủ thờ cúng Hà Bá. Với các lễ vật gồm hoa, nến và hương tại mũi thuyền được sơn vẽ hào nhoáng, các ngư phủ ra biển với niềm tin rằng họ sẽ trở về với một mẻ lưới đầy.
Các ngư phủ thờ cúng Hà Bá. Với các lễ vật gồm hoa, nến và hương tại mũi thuyền được sơn vẽ hào nhoáng, các ngư phủ ra biển với niềm tin rằng họ sẽ trở về với một mẻ lưới đầy.

Người Thượng ở Đông Dương

Từ Phan Thiết, chúng tôi tách ra khỏi Đường Thuộc địa để tới Đà Lạt và thăm dân bộ lạc người Thượng trên cao nguyên Lang Biang.

Qua một loạt khúc cua tay áo ngoằn ngoèo, con lộ bò lên cao gần một dặm so với đồng bằng, xuyên qua hàng thông thơm ngát thẳng tắp và băng ngang những thác nước đẹp đẽ.

Dọc theo con đường, ngay khi lên tới miền cao, ta có thể nhìn thấy những người Thượng lê bước bên cạnh đường với những chiếc gùi nặng nề đeo trên vai hoặc với những bó cỏ tranh hay bó củi lớn trên lưng và đầu của họ.

Phụ nữ người Thượng tựa gùi củi trên gậy chống để nghỉ ngơi. Cả đàn ông lẫn đàn bà của bộ lạc đều quen với việc gùi nặng sau lưng. Họ đi một quãng rồi lại tựa gùi trên chiếc gậy hình chữ T để nghỉ một lát và sau đó lại rảo bước tiếp.
Phụ nữ người Thượng tựa gùi củi trên gậy chống để nghỉ ngơi. Cả đàn ông lẫn đàn bà của bộ lạc đều quen với việc gùi nặng sau lưng. Họ đi một quãng rồi lại tựa gùi trên chiếc gậy hình chữ T để nghỉ một lát và sau đó lại rảo bước tiếp.

Đàn ông không mặc gì từ thắt lưng trở lên, có lẽ chỉ ngoại trừ các chuỗi hạt ở cổ, còn bên dưới mang rất ít y phục. Phụ nữ chỉ mặc váy kẻ sọc ngang đầu gối, đeo nhiều chuỗi hạt quanh cổ, vòng đeo tay và các cuộn dây bằng đồng giữa mắt cá chân và đầu gối. Bởi cao độ của cao nguyên, vào những buổi sáng lạnh lẽo, đàn ông choàng các tấm chăn quanh vai và phụ nữ thường mặc áo khoác ngoài.

Đời sống ngoài trời tại vùng khí hậu ôn hòa tạo nên thân hình khỏe mạnh của người Thượng Khoảng 200.000 dân bộ lạc này cư trú tại các vùng đồi núi của miền nam Trung Kỳ. Họ là một chủng tộc khỏe mạnh với những tay thợ săn tuyệt hảo. Người đàn ông bên trái mang theo những chiếc gùi thông dụng để đựng mọi thứ.
Đời sống ngoài trời tại vùng khí hậu ôn hòa tạo nên thân hình khỏe mạnh của người Thượng
Khoảng 200.000 dân bộ lạc này cư trú tại các vùng đồi núi của miền nam Trung Kỳ. Họ là một chủng tộc khỏe mạnh với những tay thợ săn tuyệt hảo. Người đàn ông bên trái mang theo những chiếc gùi thông dụng để đựng mọi thứ.

Để tô điểm thêm cho sắc đẹp của họ, nhiều phụ nữ dân tộc đã xỏ lỗ tai và đeo vào đó các cuộn mây hay các đĩa bằng gỗ có kích thước lớn dần, cho đến khi dái tai kéo căng tới đường kính từ ba đến năm inch (khoảng 8 - 13 cm); sau đó, khi tới tuổi trưởng thành, họ lấy các đĩa gỗ ra và treo những chiếc vòng kim loại vào các dái tai lủng lẳng, có thể dài tới 30 cm.

Khoảng 200.000 người Thượng sinh sống ở vùng rừng núi này và khoảng nửa triệu sống trên khắp Đông Dương. Những ai không thường trực di chuyển từ nơi này sang nơi khác, sinh sống giữa cây cối hay những nơi trú náu tạm thời trong rừng rậm, thì sẽ có các túp nhà tranh trên đỉnh đồi.

Từ “người Thượng” dùng để chỉ tất cả dân miền núi tại Đông Dương, bất luận họ là những người cởi trần sống quanh Đà Lạt hay các dân tộc đội mũ cao và quấn khăn của vùng thượng Lào, những người trông giống như bức phóng họa bản đồ của chúng ta.

Những người dân miền núi này được chia thành vài nhóm và phân nhánh ngữ học chính, tổng cộng vào khoảng 30 ngôn ngữ hay thổ ngữ.

Nhà ở của người Thượng quanh Đà Lạt là những ngôi nhà sàn dài bằng tre với một lỗ hở duy nhất, một cửa chính thấp nằm giữa một bên hông. Các căn buồng hẹp, đôi khi dài đến 60 mét, có ít đồ đạc nhưng lồ lộ nhiều vại rượu cần lớn kê thành hàng dọc theo các bức vách. Thức ăn được nấu trên bếp lửa trong những căn phòng phủ đầy bồ hóng xám xịt, khói bếp hoạt động như một chất diệt trừ muỗi.

Những cây nêu cao vút trang trí bằng các dải cờ bằng tre cùng với những chiếc sừng và móng trâu được dựng bên ngoài các ngôi nhà.

Người Thượng dựng nhà bằng tranh và tre. Các ngôi nhà dài, mái thấp thì không có cửa sổ và chỉ có một cửa ra vào duy nhất, qua đó người ta phải cúi đầu xuống để vào nhà. Một cây nêu cao được trang trí bằng các dải lá tre dựng ở phía bên phải.
Người Thượng dựng nhà bằng tranh và tre. Các ngôi nhà dài, mái thấp thì không có cửa sổ và chỉ có một cửa ra vào duy nhất, qua đó người ta phải cúi đầu xuống để vào nhà. Một cây nêu cao được trang trí bằng các dải lá tre dựng ở phía bên phải.

Xem thêm: Ảnh hiếm về cuộc sống của người dân Việt Nam đầu thế kỷ 20

Chế độ mẫu hệ trong một số nhóm người Thượng

Giống với dân tộc Menangkabau ở đảo Sumatra, chế độ mẫu hệ thịnh hành trong sắc dân Radé, Khasi và một số nhóm người Thượng khác.

Phụ nữ của các bộ tộc này là những người chủ gia đình. Tài sản thuộc quyền quyết định của họ, họ chăm lo cho gia đình, đi chợ mua đồ và giữ tiền. Đàn ông tỏ ra kính trọng họ, và nếu muốn uống rượu cần hay muốn mua sắm, thì phải xin phép vợ. Rất may là các bà vợ đều quảng đại. Nếu họ trở nên quá chuyên chế, người chồng có thể vùng lên.

Tại các buổi tiệc tế lễ, phụ nữ uống rượu trước tiên, tiếp đó lần lượt là các con gái và cháu gái, và sau cùng, đàn ông và con cháu trai mới được phép uống.

Đối với các dân tộc Thượng theo mẫu hệ, mọi năm đều là năm nhuận[1], bởi phụ nữ luôn là người cầu hôn. Nếu một người con gái 17 hay 18 tuổi gặp được một người đàn ông mà cô ưng ý, cô sẽ xin phép gia đình đi hỏi cưới anh ta. Nếu được gia đình đồng ý, cô sẽ trao cho anh ta quà tặng gồm một miếng trầu và hai chiếc bánh, với sự tháp tùng của một chứng nhân. Nếu anh ta chấp nhận lời cầu hôn của cô gái, anh ta sẽ nếm thử món quà và cuộc hứa hôn khi đó được hoàn thành.

Khi một cuộc hôn nhân diễn ra tại bộ lạc Radé, chàng trai đến sống với gia đình vợ và cha mẹ anh ta sẽ nhận được một số tiền để bù đắp cho việc mất đi một thành viên quan trọng trong gia đình họ. Với bộ lạc Khasi, chàng trai sống tại nhà của mẹ mình và hàng ngày tới thăm gia đình vợ sau khi công việc đồng áng trong ngày xong xuôi.

Trong các bộ lạc duy trì chế độ phụ hệ, người đàn ông có nhiệm vụ “tán tỉnh”, cung cấp đồ sính lễ và nộp một số tiền cưới cho cha mẹ vợ.

Người Thượng nói chung theo tục đơn hôn, nhưng trường hợp nhiều vợ và nhiều chồng không phải là không được biết tới.

Một số người Thượng tránh hôn nhân họ gần, bởi họ quan niệm việc đó sẽ khiến thần linh giận dữ, mà hậu quả là dịch bệnh, hạn hán, mất mùa và nhiều điều bất lợi khác.

Các nữ giáo sĩ bộ lạc cử hành các buỗi lễ tế thổ thần cứ bảy năm một lần, tiếp nhận đồ cúng, cầu khấn và dâng lễ vật để chuộc tội cho các lỗi lầm của làng.

Các buổi lễ được cử hành để cúng nhiều thần thánh khác nhau. Những bàn thờ tí hon được đặt bên cạnh các lối đi dẫn về làng của họ. Chúng ta có thể thấy các vị thần thống trị đời sống của người Thượng.

[1] Tác giả ngầm so sánh với truyền thống Ireland, theo đó, một người đàn ông nhận được lời cầu hôn vào năm nhuận sẽ phải chấp nhận lời yêu cầu này [ND].

Sinh hoạt gia đình của người Thượng rất đơn giản. Chỉ cần những manh áo nhỏ và sinh sống trong các ngôi nhà tre mái tranh, người Thượng kiếm sống bằng việc săn bắn và làm rẫy trên các ngọn đồi của miền nam Trung Kỳ.
Sinh hoạt gia đình của người Thượng rất đơn giản. Chỉ cần những manh áo nhỏ và sinh sống trong các ngôi nhà tre mái tranh, người Thượng kiếm sống bằng việc săn bắn và làm rẫy trên các ngọn đồi của miền nam Trung Kỳ.

Trên khắp cao nguyên Lang Biang lang thang vô số những hổ, báo, nai, trâu rừng và các loại thú hoang khác. Nhiều nhà săn bắn đã tận dụng khu vực trù phú này. Thực vậy, trên khắp Đông Dương, đời sống hoang dã thật dồi dào.

Dân bản xứ, qua trải nghiệm buồn thảm, hiểu được mối đe dọa của hổ. Họ thì thầm về nó với các tước hiệu tôn kính, và ở không ít nơi, các ngôi miếu đã được dựng lên để thờ Thần Hổ.

Nhờ khí hậu ôn hòa ở cao độ cả dặm Anh, Đà Lạt thu hút được nhiều người đi chạy trốn cái nóng của đồng bằng. Người Pháp đã biến cải nó thành một khu nghỉ dưỡng lành mạnh thú vị với những ngôi nhà quyến rũ, các khách sạn tốt và các khu vườn đầy hoa. Nơi đây khác hẳn với các ngôi làng kề cận của người Thượng.

Nhiều sườn đồi quanh Đà Lạt đã được khai quang và làm thành bậc thang cho các vườn trồng rau và các đồn điền cà phê. Gần như tất cả cà phê phục vụ trong bữa ăn của người Đông Dương đều được trồng tại địa phương, ở các vùng đồi núi.

Di tích nền văn minh Chàm chỉ còn lại những ngọn tháp đổ nát

Từ cao nguyên mát lạnh, chúng tôi lượn đường trôn ốc đổ xuống con đường dốc ngoằn ngoèo đến Tháp Chàm (Tourcham), trên các đồng bằng phồng cháy dưới ánh nắng mặt trời, để tiếp tục hành trình đến Đà Nẵng (Tourane), Huế và xa hơn nữa.

Trên một ngọn đồi khô cằn, nứt nẻ phủ đầy cây mâm xôi, không xa Tháp Chàm, có một ngọn tháp được bảo tồn rất tốt của người Chàm in hình dáng màu đỏ gạch của nó lên nền trời và tên của nó được đặt tên cho ngôi làng.

Các ngọn tháp bằng gạch của xứ Chàm cổ thách đố sự tàn phá của thời gian. Nền văn minh Chàm Mã Lai - Đa Đảo hay Champa, phát triển tại miền nam Trung Kỳ giữa các thế kỷ thứ 2 và thứ 17, đã để lại nhiều tượng đài tôn giáo. Đền thờ Siva Po Klaung-garai này ở Tháp Chàm (Tourcham) đã được dựng lên từ hơn 600 năm trước.
Các ngọn tháp bằng gạch của xứ Chàm cổ thách đố sự tàn phá của thời gian. Nền văn minh Chàm Mã Lai - Đa Đảo hay Champa, phát triển tại miền nam Trung Kỳ giữa các thế kỷ thứ 2 và thứ 17, đã để lại nhiều tượng đài tôn giáo. Đền thờ Siva Po Klaung-garai này ở Tháp Chàm (Tourcham) đã được dựng lên từ hơn 600 năm trước.

Dọc theo bờ biển tới Đà Nẵng có nhiều tháp bằng gạch, giờ đây ở trong tình trạng hoang phế đổ nát, là những ngọn tháp đã được dựng lên khi nền văn minh Chàm ở trên đỉnh cao quyền lực của nó.

Người Chàm, với dòng máu Mã Lai chảy trong huyết quản hòa quyện với nền văn hóa Hindu, đã phát triển từ các thế kỷ đầu tiên sau Công Nguyên cho đến khi bị chinh phục hoàn toàn vào khoảng thế kỷ thứ 17 bởi áp lực nam tiến ngày càng gia tăng của người An Nam. Cũng có thời người Chàm là đối thủ đáng sợ của người Khmer.

Ngày nay chỉ còn ít nhóm người Chàm biệt lập sinh sống tại miền nam Trung Kỳ và miền hạ Campuchia, và khó có thể phân biệt được họ với các cư dân khác.

Tháp Chàm là nhà ga đầu mối nơi đường sắt từ Đà Lạt nối với đường ray chính của miền nam Đông Dương, chạy từ Nha Trang đến Sài Gòn và Mỹ Tho. Một phần đáng kể của chặng đường leo dốc tới Đà Lạt là đường ray răng cưa, các dặm cuối cùng của nó hiện đang được xây dựng.

Người Pháp dự định hoàn thành tuyến đường ray dài 330 dặm nối Nha Trang và Đà Nẵng trong một khoảng thời gian ngắn. Khi đó các hệ thống bắc và nam sẽ được nối liền, sao cho sẽ có một dịch vụ thống nhất từ Mỹ Tho và Sài Gòn chạy dọc bờ biển, qua Hà Nội, đến Na Cham (Na Sầm, Lạng Sơn) tại biên giới Trung Hoa và đến Vân Nam, thuộc Trung Hoa. Hiện tại, một chiếc xe buýt bưu điện của chính phủ hoạt động trên khoảng trống này của đường ray xe lửa.

Chúng tôi tăng tốc độ trên con đường ven biển, đi qua những đồng lúa, những khóm dừa và các tháp Chàm.

Ngay bên ngoài Nha Trang, một chiếc cầu dài vắt ngang qua cửa vịnh dưới chân một ngọn đồi mà trên đỉnh có một tháp Chàm khác. Từ cao điểm này, người ta có được một cái nhìn toàn cảnh Vịnh Nha Trang với rất nhiều thuyền đánh cá bập bềnh trên mặt nước xao động. Xa hơn đó một chút, các ngọn núi của rặng An Nam (Trường Sơn) nối dài ra biển và tạo thành Mũi Varella (Mũi Diều) xinh đẹp.

Khi chiếc xe leo lên đoạn đường ngoằn ngoèo cao hơn bờ biển, chúng tôi đã được ngắm nhìn quang cảnh hùng vĩ với các khúc lõm vĩ đại của biển, nơi những ngọn đồi mặc áo xanh đột nhiên mọc lên từ mặt nước xanh thẫm.

Trên một trong các đỉnh cao nhất của mũi đất hiện ra một tảng đá khổng lồ, trông giống như một tháp Chàm vĩ đại, có thể được nhìn thấy cách xa hàng dặm từ mọi hướng. Bởi vị trí độc đáo này, đã có nhiều truyền thuyết về nó. Nhìn từ một góc cạnh nào đó, nó có hình dáng như một người mẹ đang bồng con trong vòng tay. Người Thượng sẽ nói cho bạn hay rằng đây là vợ của một vị thần vĩ đại, người đã biến bạn đời của mình thành hòn đá bởi bà ta đã lừa dối ông. Do đó, bà đã vĩnh viễn đứng trên núi cao như một lời cảnh tỉnh cho các phụ nữ khác. Huyền thoại này đã được các nhà vẽ bản đồ người Pháp lưu giữ, họ đặt tên cho phần này của rặng núi là “Núi Mẹ và Con”.

Trên đường tới Đà Nẵng, chúng tôi đã dừng chân nghỉ đêm tại Tuy Hòa và một lần nữa tại Quảng Ngãi, trong những căn nhà thấp (bungalow) đẹp đẽ mà chính phủ Pháp đã gìn giữ thật hoàn hảo ở đây và tại nhiều thị trấn nhỏ khác ở Đông Dương.

Vừa vượt quá làng chài Sông Cầu với những khóm dừa nằm rải rác, bờ biển bằng phẳng được đắp đê thành các ruộng muối rộng lớn để nước biển bốc hơi. Gần Qui Nhơn, nhiều tượng đài Chàm trên các ngọn đồi bao quanh mọc lên như những vọng gác trên các đồng bằng được canh tác tốt, được điểm xuyết bằng những ngôi làng An Nam đông đúc xây bằng các khung tre, tường trát bùn và mái cỏ tranh.

Di chuyển và chuyên chở bằng voi. Một nhóm dân Campuchia đang trở về nhà sau lễ hội bằng một phương tiện lâu đời. Tuy nhiên, với sự gia tăng đáng ngạc nhiên các đường lộ tốt tại Đông Dương thuộc Pháp, nhiều người giờ đây đi lại bằng xe buýt.
Di chuyển và chuyên chở bằng voi. Một nhóm dân Campuchia đang trở về nhà sau lễ hội bằng một phương tiện lâu đời. Tuy nhiên, với sự gia tăng đáng ngạc nhiên các đường lộ tốt tại Đông Dương thuộc Pháp, nhiều người giờ đây đi lại bằng xe buýt.

Những chiếc xe hơi cắt đuôi ma quỷ đeo bám khách bộ hành

“Đường lộ thì tuyệt hảo, nhưng ngổn ngang động vật và con người”, một cuốn sách mỏng của Pháp nhận xét chính xác về vùng này của An Nam, bởi tất cả những người An Nam, rồi chó và trâu, luôn luôn di chuyển. Mọi người với đòn gánh vắt ngang vai đang đi ra chợ hoặc ra đồng.

Không có cảnh xin đi nhờ xe tại An Nam, bởi vì mọi người đều dạt về phía lề đường khi có một chiếc xe đang tiến tới - đúng thế, tất cả mọi người. Đôi khi một người già An Nam mê tín tin rằng một hồn ma ác độc đang đeo bám mình và nếu ông ta chạy ngang qua lối đi của chiếc xe hơi vào phút chót, con ma sẽ bị xe đâm và khi đó, ông ta sẽ được giải thoát khỏi kẻ ám hại. Người ta dễ bị đoán sai tốc độ của một cỗ máy đang phóng tới; do đó có nguy cơ chiếc xe không chỉ đâm vào con ma, mà còn đâm cả vào đuôi áo đang tung bay.

Trong nhóm người An Nam đi chợ, không có màu sắc như người ta nhìn thấy tại Campuchia. Gần như tất cả mọi người đều mặc áo dài đen, quần trắng hoặc đen, đội trên đầu những chiếc nón rộng vành hình nấm làm bằng lá cọ, che mưa nắng đều tốt. Tại các ngôi chợ, chúng khiến ta liên tưởng đến một mái che bằng tranh chắc chắn cho những người đang tụ họp để mua bán, trao đổi.

Hàng trăm người dân An Nam đội nón hình nấm từ vùng quê đến tụ họp để mua bán, trao đổi tại một buổi chợ sáng
Hàng trăm người dân An Nam đội nón hình nấm từ vùng quê đến tụ họp để mua bán, trao đổi tại một buổi chợ sáng
Nón lá dừa của người An Nam
Nón lá dừa của người An Nam

Đà Nẵng là hải cảng chính yếu của trung phần Trung Kỳ. Năm 1858, chính tại địa điểm trọng yếu này, người Pháp đã nổ súng khi nạn đàn áp các tín đồ Thiên Chúa Giáo xảy ra ở An Nam. Đà Nẵng là một thành phố tự quản, bởi nó là một trong các khu nhượng địa mà Vua Gia Long [sic] giao cho Pháp.

Cách phía nam vài dặm là thành phố Faifoo (Hội An) của người Hoa, nơi hoạt động chuyên chở bằng tàu khá nhộn nhịp. Đã có thời một khu định cư Nhật Bản hiện hữu nơi đây.

Các bức bình phong bên trong cổng chùa. Một vài xu lẻ đã dỗ được mấy đứa trẻ Hội An này vượt qua nỗi sợ máy chụp hình và chịu đứng chụp trước bức bình phong này tại lối vào chùa.
Các bức bình phong bên trong cổng chùa. Một vài xu lẻ đã dỗ được mấy đứa trẻ Hội An này vượt qua nỗi sợ máy chụp hình và chịu đứng chụp trước bức bình phong này tại lối vào chùa.

Các du khách cũng chú ý đến Ngũ Hành Sơn (Marble Mountains) cách Đà Nẵng ít dặm, nơi các nhà sư An Nam đã biến cải một số hang động thành tu viện.

Các hang động tại Ngũ Hành Sơn, gần Đà Nẵng, giờ đây là thánh địa cho các cuộc hành hương Phật Giáo, đã từng được dùng làm các đền thờ Ấn Độ Giáo trong thời đại người Chàm. Cấu trúc giống như ngôi chùa bên tay trái cao khoảng 10 bộ Anh.
Các hang động tại Ngũ Hành Sơn, gần Đà Nẵng, giờ đây là thánh địa cho các cuộc hành hương Phật Giáo, đã từng được dùng làm các đền thờ Ấn Độ Giáo trong thời đại người Chàm. Cấu trúc giống như ngôi chùa bên tay trái cao khoảng 10 bộ Anh.

Từ Đà Nẵng, trạm dừng chân kế tiếp của chúng tôi là Huế, trung tâm sinh hoạt của An Nam. Giữa hai thành phố này, các ngọn núi đâm ra biển tạo thành Đèo Hải Vân (Col des Nuages, Pass of the Clouds), thành quả tuyệt đỉnh của thiên nhiên bên bờ biển Trung Kỳ. Tại đỉnh đèo có một đồn An Nam cũ, từ đó người ta có thể nhìn lại đường cong vĩ đại của Vịnh Đà Nẵng, trong khi nhìn về hướng kia là bờ biển dài và núi đồi dốc đứng. Ở một cao độ thấp hơn nhiều so với con đường màu vàng bao quanh các ngọn đồi phủ lá xanh, người ta có thể nhìn thấy đường ray xuyên vào đỉnh đèo qua một vài đường hầm.

Khi chúng tôi đi xuống từ ngọn đèo, mặt trời trượt dưới các đỉnh núi và biến biển và mây thành một bài thơ màu sắc. Thiên nhiên thật trác tuyệt trong việc vẽ lại một bức tranh vốn đã đẹp sẵn.

 

Mười một bánh xe vĩ đại tạo thành guồng nước này được làm hoàn toàn bằng tre buộc vào với nhau. Nhiều bánh xe hợp lại như thế được ráp vào con sông gần Quảng Ngãi để tưới nước cho vùng đất cát bị mặt trời thiêu đốt.
Mười một bánh xe vĩ đại tạo thành guồng nước này được làm hoàn toàn bằng tre buộc vào với nhau. Nhiều bánh xe hợp lại như thế được ráp vào con sông gần Quảng Ngãi để tưới nước cho vùng đất cát bị mặt trời thiêu đốt.
Một cái nhìn cận cảnh những chiếc guồng nước trong hình bên trên. Các ống tre đổ nước sông vào các máng nối liền nhau, từ đó nó được chuyển đến một đường dẫn chính (bên trái phía trước) để phân phối đến các cánh đồng. Các lối đi hẹp cho phép các công nhân vươn đến được các bánh xe khi cần sửa chữa.
Một cái nhìn cận cảnh những chiếc guồng nước trong hình bên trên. Các ống tre đổ nước sông vào các máng nối liền nhau, từ đó nó được chuyển đến một đường dẫn chính (bên trái phía trước) để phân phối đến các cánh đồng. Các lối đi hẹp cho phép các công nhân vươn đến được các bánh xe khi cần sửa chữa.
Các nông dân An Nam đã sáng chế ra một cách tưới tiêu tân kỳ. Dùng những chiếc rổ tre đan với các sợi dây thừng được buộc cả bên trên lẫn bên dưới, họ múc nước từ sông và trút rổ nước vào các luồng tưới tiêu bằng những động tác nhịp nhàng, khéo léo. Không có chuyện chậm chạp, bởi để phương pháp này thành công, các nông dân phải phối hợp ăn ý
Các nông dân An Nam đã sáng chế ra một cách tưới tiêu tân kỳ. Dùng những chiếc rổ tre đan với các sợi dây thừng được buộc cả bên trên lẫn bên dưới, họ múc nước từ sông và trút rổ nước vào các luồng tưới tiêu bằng những động tác nhịp nhàng, khéo léo. Không có chuyện chậm chạp, bởi để phương pháp này thành công, các nông dân phải phối hợp ăn ý

Hai vương quốc thống nhất dưới ngọc trượng của vua Gia Long

Huế là kinh đô của An Nam xưa. Thời hiện đại của nó bắt đầu từ năm 1803 khi Nguyễn Ánh, một hoàng tử An Nam trẻ tuổi, sau này trở thành Hoàng Đế Gia Long, đã chiến thắng trên con đường tới ngai vàng An Nam với sự giúp đỡ của Giám mục địa phận Adran và một nhóm nhỏ các tay phiêu lưu người Pháp mà ông đã gặp tại Bangkok.

Cũng nhờ nỗ lực của Gia Long, các vương quốc Tonkin (Đàng Ngoài) và An Nam (Đàng Trong), trước đây bị phân chia do sự tranh giành trong gia tộc cầm quyền, một lần nữa được thống nhất dưới ngọc trượng của ông; nhưng lịch sử kế tiếp bị nhuộm đỏ bằng máu của sự đàn áp và chiến tranh.

Những chiếc đỉnh đồng vĩ đại tưởng nhớ các vua chúa của Huế. Ở mặt ngoài của chín chiếc đỉnh tượng trưng cho triều đại này, được đúc vào năm 1838, là các biểu tượng liên quan đến các tập quán có từ thời nhà Hạ, Trung Hoa, 4000 năm trước đây. Chiếc đỉnh đứng lẻ hàng tượng trưng cho vua Gia Long, là người sáng lập triều Nguyễn.
Những chiếc đỉnh đồng vĩ đại tưởng nhớ các vua chúa của Huế. Ở mặt ngoài của chín chiếc đỉnh tượng trưng cho triều đại này, được đúc vào năm 1838, là các biểu tượng liên quan đến các tập quán có từ thời nhà Hạ, Trung Hoa, 4000 năm trước đây. Chiếc đỉnh đứng lẻ hàng tượng trưng cho vua Gia Long, là người sáng lập triều Nguyễn.

Kể từ năm 1885, nước Pháp đã nắm giữ chế độ bảo hộ trên Trung Kỳ và Bắc Kỳ.

Thành phố Huế tọa lạc cách biển một vài dặm, nằm bên bờ của dòng sông Hương uốn khúc - tên gọi này xuất phát từ những cây nở hoa có mùi thơm dịu ngọt dọc bờ sông.

Khu người An Nam của thành phố, với tòa thành có tường bao quanh, nằm một bên của con sông, còn dinh Trú Sứ (Residency) và khu người Pháp nằm ở bên đối diện.

Bên trong những bức tường thành trổ lỗ châu mai cổ xưa là các cung điện, các phòng của nhà vua và các miếu thờ tổ tiên nơi đặt bàn thờ những vị vua đã mất. Tại một khu vườn có những chiếc đỉnh đồng khổng lồ được đúc một cách khéo léo. Những cây hoa đại và cây muồng hoa đào hồng thắm ngổn ngang nở rộ dọc theo các lối đi và tại các khu vườn rộng mở. Các cung điện có thiết kế kiến trúc kiểu Trung Hoa, được trang trí bằng sơn mài màu đỏ và vàng. Bên trong cung điện cũng chứa nhiều các sản phẩm khảm trai.

Lăng Khải Định ở Huế đem lại cho du khách một điểm giao hòa đẹp đẽ của những gì có tính chất An Nam.

Cách thị trấn không xa, trên các đồi nhỏ trồng cây, là các ngôi mộ tráng lệ của những vị vua băng hà, một số lăng rộng đến vài mẫu. Lăng của Khải Định, được xây dựng bằng xi măng và cẩm thạch, là lăng kiêu kỳ nhất cho đến nay. Một số nhà vua dành phần lớn đời mình để giám thị việc xây cất những nơi an nghỉ cầu kỳ của họ, vốn được thiết kế phù hợp với các tập quán và nghi lễ cổ xưa.

Những vị vua quá cố của An Nam an nghỉ tại các lăng tẩm cầu kỳ ở Huế. Hoàng Đế Khải Định (băng hà năm 1925), đã mất vài năm để giám sát việc xây dựng lăng tẩm nguy nga này. Một bậc thang dài dẫn lên tầng có các hàng tượng quan lại và ngựa bằng đá đứng chầu. Ngôi đình trung tâm có một tấm bia thuật lại các công việc của ông, trong khi ở phía sau, mọc lên một khối lăng tẩm đồ sộ.
Những vị vua quá cố của An Nam an nghỉ tại các lăng tẩm cầu kỳ ở Huế. Hoàng Đế Khải Định (băng hà năm 1925), đã mất vài năm để giám sát việc xây dựng lăng tẩm nguy nga này. Một bậc thang dài dẫn lên tầng có các hàng tượng quan lại và ngựa bằng đá đứng chầu. Ngôi đình trung tâm có một tấm bia thuật lại các công việc của ông, trong khi ở phía sau, mọc lên một khối lăng tẩm đồ sộ.

Xem thêm: Lễ Tứ Tuần Đại Khánh của vua Khải Định, tháng 9 năm 1924

Một buổi chiều, trên đường quay trở về từ các lăng mộ, chúng tôi gặp một nhóm nữ sinh mặc áo dài tím đang đi picnic. Sau khi chúng tôi thuyết phục mãi, họ đồng ý cho chụp ảnh, như một lời chào thân thiện tới các nữ sinh Mỹ và các nước khác, những người có thể nhìn thấy ảnh chụp màu của họ trên tạp chí National Geographic.

Các nữ sinh đang vui vẻ đi dã ngoại. Như một lời chào thân thiện gửi tới độc giả tạp chí National Geographic, các nữ sinh này của một trường học ở Huế đã đồng ý cho phép chụp một bức ảnh.
Các nữ sinh đang vui vẻ đi dã ngoại. Như một lời chào thân thiện gửi tới độc giả tạp chí National Geographic, các nữ sinh này của một trường học ở Huế đã đồng ý cho phép chụp một bức ảnh.

An Nam chịu ảnh hưởng của Trung Hoa ngay từ thế kỷ thứ nhì trước Công nguyên và còn nằm dưới bóng Trung Hoa gần như liên tục cho đến năm 1428 [sic], khi nó thoát ra khỏi sự cai trị của nhà Minh, nhưng sau đó vẫn gửi lễ vật triều cống cho đến tận thời vua Mãn Thanh. Bởi nằm dưới quyền chủ tể lâu dài của Trung Hoa, các nhà lãnh đạo của An Nam bị Kinh Lễ (Book of Rites) [sic] chi phối mọi hoạt động, và bao quanh họ là hệ thống bá quan văn võ mô phỏng theo triều đình Trung Hoa.

Trên một khoảng đất trống bên ngoài Huế, như từng được thực hiện tại Bắc Kinh, Hoàng đế cứ ba năm một lần lại cử hành các buổi lễ tế Trời và Đất với sự trợ giúp của quan lại.

Chuyến đi của chúng tôi tới Huế trùng hợp với cuộc thăm viếng của Quốc Vương và Hoàng Hậu nước Xiêm La. Trong suốt cuộc thăm viếng, họ đã được tiếp đón tại hoàng cung. Do vị Hoàng Đế trẻ tuổi Bảo Đại vắng mặt vì đang du học tại Pháp, Hoàng Thái Hậu đã đón tiếp họ. Đó là một cuộc đón tiếp với phép xã giao và nghi lễ giống như tại hoàng triều Bắc Kinh trước khi nó sụp đổ vào năm 1911.

Nhờ sự tử tế của Thượng Thư Bộ Lễ, tôi đã chụp được ảnh màu một số võ quan và văn quan mặc y phục thêu lộng lẫy và các đôi hia cao cổ có đầu mũi uốn cong, gợi nhớ đến trang phục của giới quan chức nhà Minh.

Xem thêm: Những kiểu trang phục phổ biến trong lịch sử Việt Nam và các quốc gia đồng văn

Các văn quan và võ quan phục vụ triều đình. Trang phục bằng lụa thêu hoa văn của các nhà quý tộc này làm gợi nhớ đến thời trị vì của nhà Minh, khi ảnh hưởng của Trung Hoa ở mức độ lớn nhất tại An Nam. Nhân vật đứng bên trái được xác định là một quan văn bởi chiếc mũ học giả có cánh chuồn, trong khi những người ở bên phải là các võ quan. Một bên thì thông thạo kinh điển, bên kia thông thạo binh pháp.
Các văn quan và võ quan phục vụ triều đình. Trang phục bằng lụa thêu hoa văn của các nhà quý tộc này làm gợi nhớ đến thời trị vì của nhà Minh, khi ảnh hưởng của Trung Hoa ở mức độ lớn nhất tại An Nam. Nhân vật đứng bên trái được xác định là một quan văn bởi chiếc mũ học giả có cánh chuồn, trong khi những người ở bên phải là các võ quan. Một bên thì thông thạo kinh điển, bên kia thông thạo binh pháp.
Các nhà sư phật giáo cầu nguyện khi họ tiến vào điện thờ cồ đàm. Ở Huế có một vài ngôi chùa, nơi các tín đồ của Đức Phật có thể lui tới để suy niệm về sự vô biên trong cuộc dõi tìm cõi Niết Bàn. Một nhà sư và hai đệ tử.
Các nhà sư phật giáo cầu nguyện khi họ tiến vào điện thờ cồ đàm. Ở Huế có một vài ngôi chùa, nơi các tín đồ của Đức Phật có thể lui tới để suy niệm về sự vô biên trong cuộc dõi tìm cõi Niết Bàn. Một nhà sư và hai đệ tử.

Công chúa đãi trà

Kỷ niệm thích thú nhất trong chuyến thăm Huế của tôi là sự đón tiếp chúng tôi tại cung điện của một vị công chúa có người cha và người anh đều từng ngự trên ngôi vua.

Một hôm, tôi đã chụp ảnh màu của bà trong trang phục chính thức, và ngày hôm sau, đã trở lại để trình cho bà kết quả. Khi việc chụp ảnh đã xong xuôi tại sân trong, chúng tôi được mời uống trà An Nam, cùng với những món đồ ngọt và bánh ngọt rất lạ miệng.

Theo đề nghị của chúng tôi, cô con gái của công chúa, một thiếu nữ xinh đẹp ở tuổi mười lăm, đã bằng lòng trình diễn cho chúng tôi một tiết mục đàn dây An Nam. Cô bé sau đó được phụ họa bởi người thày dạy nhạc lớn tuổi bị mù và một vài người khác với nhiều loại đàn dây khác nhau, trong khi những người đồng diễn trẻ tuổi hát các bài hát An Nam.

Trong suốt buổi trình diễn ca nhạc không chính thức, công chúa quan sát sự chú ý của chúng tôi từ chỗ ngồi được kê nệm trên một chiếc ghế lớn khảm xà cừ. Đằng sau bà, các thiếu nữ liên tục phe phẩy chầm chậm những chiếc quạt lông lớn.

Kiến trúc An Nam phỏng theo thiết kế Trung Hoa truyền thống. Bởi An Nam đã tiếp xúc với ảnh hưởng Trung Hoa trong hơn 23 thế kỷ, nhiều thời bị kiềm chế như một nước chư hầu, sinh hoạt và nghi lễ triều đình An Nam chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Trung Hoa, y như kiến trúc của chiếc cổng này dẫn đến các Hoàng Cung tại Huế.
Kiến trúc An Nam phỏng theo thiết kế Trung Hoa truyền thống. Bởi An Nam đã tiếp xúc với ảnh hưởng Trung Hoa trong hơn 23 thế kỷ, nhiều thời bị kiềm chế như một nước chư hầu, sinh hoạt và nghi lễ triều đình An Nam chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Trung Hoa, y như kiến trúc của chiếc cổng này dẫn đến các Hoàng Cung tại Huế.
Một công chúa hoàng tộc tại huế. Từng thước vải màu xanh khổ một phân Anh quấn quanh đầu bà tạo thành một chiếc mũ rộng và phẳng. Bà có quyền đội khăn màu vàng của hoàng gia bởi cả cha và anh của bà đã lên ngôi vua An Nam.
Một công chúa hoàng tộc tại huế. Từng thước vải màu xanh khổ một phân Anh quấn quanh đầu bà tạo thành một chiếc mũ rộng và phẳng. Bà có quyền đội khăn màu vàng của hoàng gia bởi cả cha và anh của bà đã lên ngôi vua An Nam.
Con gái hoàng tộc An Nam
Con gái hoàng tộc An Nam

Tôi cần phải kể đến một hoàng tử trẻ tuổi và vợ của ông ta, nhờ họ mà tôi đã có thể ngắm nhìn sự quyến rũ và màu sắc của Huế xưa. Hoàng gia vẫn sống tại Huế, mặc dù giới thẩm quyền Pháp có thể đứng một cách không mấy che đậy ở hậu trường.

Xem thêm: Thái tử Bảo Long: Hoàng tử cuối cùng của triều đại phong kiến Nhà Nguyễn

Một buổi sớm mai, chúng tôi rời Huế đi Hà Nội, thủ đô của xứ Bắc Kỳ và trung tâm hành chính của toàn thể Đông Dương.

Họ phục vụ cho Bảo Đại, hoàng đế An Nam. Phần lớn công việc thường lệ của các văn phòng Chính Phủ được thực hiện bởi một lực lượng thư ký mà các thành viên của nhóm đều mặc các áo dại màu đen, quần trắng, và đội khăn. Nhiều người trong họ có cấp bực quan lại, một sự kiện được tuyên cáo bởi thẻ ngà voi trang đeo ở phần ngực của họ.
Họ phục vụ cho Bảo Đại, hoàng đế An Nam. Phần lớn công việc thường lệ của các văn phòng Chính Phủ được thực hiện bởi một lực lượng thư ký mà các thành viên của nhóm đều mặc các áo dại màu đen, quần trắng, và đội khăn. Nhiều người trong họ có cấp bực quan lại, một sự kiện được tuyên cáo bởi thẻ ngà voi trang đeo ở phần ngực của họ.
một nữ diễn viên mang trang phục của một vai nam
một nữ diễn viên mang trang phục của một vai nam
Tại trung kỳ có rất nhiều đệ tử của khổng tử. Gần ngôi đình này trong sân của Văn Miếu, tòa nhà thờ Khổng Tử, là các bia dành cho nhà hiền triết Trung Hoa và 12 đệ tử của ông. Các lễ cúng được cử hành tại đây hai lần mỗi năm. Gần đó, một ngôi chùa cao vươn lên, đạt được một tầm nhìn tuyệt hảo xuống dòng sông Hương uốn khúc quanh co.
Tại trung kỳ có rất nhiều đệ tử của khổng tử. Gần ngôi đình này trong sân của Văn Miếu, tòa nhà thờ Khổng Tử, là các bia dành cho nhà hiền triết Trung Hoa và 12 đệ tử của ông. Các lễ cúng được cử hành tại đây hai lần mỗi năm. Gần đó, một ngôi chùa cao vươn lên, đạt được một tầm nhìn tuyệt hảo xuống dòng sông Hương uốn khúc quanh co.
Các vị thần canh gác văn miếu mặc áo choàng rực rỡ. Một viên quan trẻ tuổi đứng bên cạnh một trong 12 pho tượng canh gác cho Văn Miếu tại vùng chung quanh Huế
Các vị thần canh gác văn miếu mặc áo choàng rực rỡ. Một viên quan trẻ tuổi đứng bên cạnh một trong 12 pho tượng canh gác cho Văn Miếu tại vùng chung quanh Huế
Đài tưởng niệm các binh sĩ thế chiến I của An Nam đã rời xứ sở nhưng không bao giờ trở về.Tên họ của các binh sĩ An Nam và Pháp đã hy sinh trong Thế chiến I được khắc tại đài tưởng niệm này với thiết kế đông phương tuyệt diệu được dựng bên bờ sông Hương tại Huế.
Đài tưởng niệm các binh sĩ thế chiến I của An Nam đã rời xứ sở nhưng không bao giờ trở về.Tên họ của các binh sĩ An Nam và Pháp đã hy sinh trong Thế chiến I được khắc tại đài tưởng niệm này với thiết kế đông phương tuyệt diệu được dựng bên bờ sông Hương tại Huế.

------------------------------

Tác giả: W. Robert Moore - National Geographic Magazine.

Người dịch: Ngô Bắc

5 ( 1 bình chọn )

Khám Phá Lịch Sử

https://khamphalichsu.com
Những quan điểm, góc nhìn về lịch sử qua các bài viết tìm hiểu, nghiên cứu, khám phá lịch sử Việt Nam, lịch sử thế giới, văn hóa Việt Nam, văn hóa thế giới

Bài viết mới

Xem thêm