Trang chủ Nhân vật lịch sử Hai chiến tuyến trong một gia đình

Hai chiến tuyến trong một gia đình

Trong thời kỳ đấu tranh giành độc lập từ Nhật, Pháp, Mỹ và Trung Quốc, có nhiều trường hợp người trong cùng gia đình đứng ở 2 chiến tuyến đối lập nhau.

Bài viết này sẽ kể tên vài trường hợp thú vị trong lịch sử. Xin lưu ý là mình không đề cao hay ca ngợi bất kỳ một lực lượng ngoại bang hoặc bù nhìn nào cả! Hãy đơn giản xem đây là một thông tin thú vị về lịch sử Việt Nam.

Trần Văn Dõi - Trần Văn Hương

Trần Văn Dõi, còn có bí danh là Lưu Vĩnh Châu, sinh năm 1924 tại Vĩnh Long. Ông là con trai trưởng của Trần Văn Hương - cựu Tổng thống Việt Nam Cộng hòa. Lưu Vĩnh Châu tham gia phong trào Thanh niên Tiền phong năm 1944, rồi gia nhập Vệ Quốc Đoàn của Việt Minh chống quân Pháp tái xâm lược. Giữa năm 1946 quân Pháp tấn công Tây Ninh, ông được lệnh ra bắc xin chi viện cho tiền tuyến miền nam. Tuy nhiên lúc đó tình hình ngoài bắc cũng căng thẳng không kém nên ông không trở về nam nữa.

Ông tham gia chiến đấu trong đội tự vệ Bạch Mai trong ngày Toàn quốc Kháng chiến vào ngày 19 tháng 12 năm 1946. Sau này ông là một trong số ít những người Nam Bộ trực tiếp tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, ông ở lại miền bắc và được phong quân hàm Đại úy Quân đội Nhân dân Việt Nam, làm việc tại Tổng cục Hậu cần cho đến ngày đất nước thống nhất. Lưu Vĩnh Châu mất năm 2011 tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Trần Văn Hương sinh năm 1902 tại Vĩnh Long. Ông từng là thầy giáo tại Trường College Le Myre De Villers tại Mỹ Tho (nay là trường THPT Nguyễn Đình Chiểu). Ông từng giữ chức Đốc học Tây Ninh một thời gian. Sau Cách mạng tháng Tám ông có tham gia Việt Minh một thời gian nhưng rồi bỏ. Sau khi Ngô Đình Diệm lên nắm quyền năm 1955, Trần Văn Hương được bổ nhiệm là Đô trưởng Sài Gòn. Tuy vậy sau đó ông bất mãn với chính quyền Diệm và bày tỏ sự ủng hộ với lực lượng đảo chính năm 1963.

Trần Văn Hương từng giữ chức Thủ tướng VNCH thời gian ngắn (1964) rồi Phó Tổng thống (1971-1975). Ông cũng giữ chức Tổng thống trong 7 ngày sau khi Nguyễn Văn Thiệu từ chức, trước khi trao quyền lại cho Dương Văn Minh.

Sau năm 1975, con trai Lưu Vĩnh Châu trở về gặp ông, lúc này ông mới biết con mình còn sống (trước đó ông Hương nghĩ con mình đã chết). Gia đình ông được hội ngộ và sống cùng nhau tại TP HCM. Trần Văn Hương mất năm 1982 tại TP HCM. Ngoài ra ông Hương còn có một người con út là Trần Văn Đính (sinh năm 1925), từng là phụ tá của ông. Hiện ông Đính đang sống tại Mỹ.

Thông tin thêm: con gái của ông Lưu Vĩnh Châu lấy chồng Hungary và sinh sống tại đó. Họ có một người con trai là Sztancsek Trần Szilard Việt - một huấn luyện viên bóng đá tại Hungary. Năm 2018 Szilard đã về Việt Nam theo lời hứa với ông ngoại và hiện đang công tác tại Học viện Juventus Thành phố Hồ Chí Minh.

Lưu Vĩnh Châu cùng người con gái (trái), Trần Văn Hương khi là thủ tướng (dưới) và Trần Văn Đính ở Mỹ (phải)
Lưu Vĩnh Châu cùng người con gái (trái), Trần Văn Hương khi là thủ tướng (dưới) và Trần Văn Đính ở Mỹ (phải)

Dương Văn Nhựt - Dương Văn Minh

Dương Văn Nhựt, còn gọi là Dương Thanh Nhựt hoặc Mười Ty, sinh năm 1918 tại Mỹ Tho. Ông là Thiếu tướng QDNDVN đã trải qua 2 cuộc kháng chiến. Anh trai của ông chính là Dương Văn Minh - Tổng thống cuối cùng của VNCH. Ông được Ban Binh vận Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam cử đi bí mật gặp gỡ và tác động lên các quyết định của anh trai mình. Dương Văn Nhựt mất năm 1999 tại TP HCM. Thông tin về ông khá ít ỏi.

Dương Văn Minh sinh năm 1916 tại Mỹ Tho. Ông gia nhập Quân đội Thuộc địa Pháp năm 1939. Ông từng bị quân Nhật bắt sau khi đảo chính Pháp năm 1945, và có tham gia Việt Minh một thời gian. Sau khi Pháp chiếm được Nam Bộ, ông tái phục vụ trong quân đội Pháp. Dương Văn Minh là một trong số những sĩ quan ủng hộ Ngô Đình Diệm phế truất Bảo Đại. Và trớ trêu thay chính ông về sau là người chủ mưu đảo chính phế truất lại Ngô Đình Diệm. Sau đảo chính ông giữ chức Quốc trưởng từ 1963 đến 1964, được thăng cấp Đại tướng năm 1964. Trong giai đoạn biến động của VNCH ông bị ép lưu vong ra nước ngoài vài năm.

Với sự tan vỡ nhanh chóng của VNCH năm 1975, Dương Văn Minh cùng các thành phần thứ 3 chủ trương thương thuyết với phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để chấm dứt chiến tranh. Theo hồi ký một số tướng tá VNCH thì ngày 28/4/1975 tướng tình báo Pháp Francois Vanusseme tới gặp Dương Văn Minh và đề nghị ông kêu gọi Trung Quốc đem quân tấn công miền bắc để giải cứu VNCH. Lúc đó ông đã được em trai là Dương Văn Nhựt (lúc này là Đại tá Quân Giải phóng) thuyết phục từ trước nên đã từ chối và nói:

“Tôi cảm ơn thiện chí của ông, nhưng trong đời tôi, tôi đã từng làm tay sai cho Pháp, rồi tay sai cho Mỹ, đã quá đủ rồi. Tôi không thể tiếp tục làm tay sai cho Trung Quốc.”

Dương Văn Minh trở thành Tổng thống cuối cùng của VNCH vào ngày 28/4/1975. Trưa ngày 30/4/1975 ông đợi Quân Giải phóng tiến vào Dinh Độc Lập để bàn giao chính quyền và lên Đài phát thanh Sài Gòn đọc tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Ông được đánh giá là đã góp phần chấp dứt chiến tranh và ngăn đổ máu vào những giờ phút cuối cùng. Sau này ông xuất cảnh sang Pháp và sang Mỹ định cư. Dương Văn Minh mất năm 2001 tại Mỹ.

Dương Văn Minh cùng Quân Giải Phóng tại Dinh Độc Lập
Dương Văn Minh cùng Quân Giải Phóng tại Dinh Độc Lập

Bùi Kỷ - Bùi Diễm

Bùi Kỷ sinh năm 1888 tại Hà Nam. Ông là nhà giáo Nho học và nhà nghiên cứu văn hóa quan trọng của Việt Nam trong thế kỷ 20. Từ nhỏ ông đã được tiếp cận nhiền nền giáo dục khác nhau của Nho giáo, Việt Nam, Trung Quốc, Pháp… Ông từng gặp gỡ nhiều nhà cách mạng yêu nước như Phan Châu Trinh, vì lẽ đó mà ông từ chối lời mời cộng tác từ Pháp và triều đình Nhà Nguyễn. Từ năm 1932 Bùi Kỷ dạy học tại Trường tư thục Thăng Long, một trong những học trò của ông chính là Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Sau Cách mạng tháng Tám, Bùi Kỷ được chính phủ VNDCCH mời tham gia giúp nước. Ông giữ các chức vụ quan trong trong phong trào xóa nạn mù chữ. Ngoài ra ông còn là Ủy viên Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Ông có nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa và ngữ văn, nổi bật nhất là “Quốc văn cụ thể”. Bùi Kỷ mất năm 1960 tại Hà Nội. Người con trai duy nhất của ông là Bùi Diễm, cựu Đại sứ VNCH tại Mỹ.

Bùi Diễm sinh năm 1923 tại Hà Nam. Ông hoạt động chính trị khi học tại Trường Bưởi ở Hà Nội (nay là Trường THPT Chu Văn An) và là người ủng hộ nhiệt tình Đại Việt Quốc dân Đảng. Ông vận động ủng hộ chính phủ thân Nhật của Trần Trọng Kiêm. Trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp, ông chống lại Việt Minh. Ông di cư vào nam nhưng không tham gia chế độ Ngô Đình Diệm vì bất đồng.

Khi Phan Huy Quát lên làm Thủ tướng VNCH, Bùi Diễm mới ra chấp chính với chức vụ Tổng trưởng Phủ Thủ tướng năm 1965 và Ủy viên ngoại giao trong Ủy ban Hành pháp Trung ương năm 1965-1967. Ngoài ra ông còn làm Đại sứ VNCH tại Washington DC, Mỹ từ 1967 đến 1972. Sau năm 1975 thì ông tị nạn tại Mỹ. Có cha là nhân sĩ của Việt Minh nên ông ít khi nào nhắc về gia đình mình. Đến tận bây giờ ông cũng chưa bao giờ về lại cố hương thăm mộ cha.

Bùi Kỷ, mặc áo dài khăn đóng, cùng các chiến sĩ Vệ Quốc Quân tại chiến khu và Bùi Diễm khi là Đại sứ tại Mỹ
Bùi Kỷ, mặc áo dài khăn đóng, cùng các chiến sĩ Vệ Quốc Quân tại chiến khu (trái) và Bùi Diễm khi là Đại sứ tại Mỹ (phải)

Phan Huy Lê - Phan Huy Quát

Phan Huy Lê sinh năm 1934 tại Hà Tĩnh. Ông là giáo sư, nhà giáo nhân dân và nhà sử học nổi tiếng của Việt Nam. Cha ông là Phan Huy Tùng từng làm cho triều đình Nhà Nguyễn. Một người anh trai cùng cha khác mẹ với ông là Phan Huy Quát - cựu Thủ tướng VNCH. Cả 2 người thuộc dòng dõi Phan Huy nổi tiếng với Phan Huy Ích, Phan Huy Chú…

GS Phan Huy Lê tốt nghiệp ngành Sử - Địa, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 1956. Ông được nhận làm Trợ lý giảng dạy tại Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Ông được coi là “Tứ trụ Sử gia Việt Nam” (Lâm, Lê, Tấn, Vượng). Ông từng giữ chức Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam từ 1990 đến 2015. Ông cũng nhận được nhiều giải thưởng danh giá như Giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học (2016), Giải thưởng Quốc tế Văn hóa Châu Á Fukuoka của Nhật Bản (1996), Huân chương Cành cọ Hàn lâm của Pháp (2002)... Phan Huy Lê mất năm 2018 tại Hà Nội.

Phan Huy Quát sinh năm 1908 tại Hà Tĩnh. Ông là đảng viên Đại Việt Quốc dân Đảng và ủng hộ giải pháp Quốc gia Việt Nam do Pháp lập ra. Trong giai đoạn loạn binh đảo chính VNCH, ông giữ chức Tổng trưởng Ngoại giao (1964) rồi Thủ tướng (1965). Khi quân đội Mỹ đổ quân lên Đà Nẵng năm 1965 mà không thông báo trước cho VNCH, ông được một sĩ quan Mỹ yêu cầu soạn thảo một thông cáo chính thức để hợp thức hóa sự xâm lược của quân Mỹ. Đến tận lúc đó ông mới biết Mỹ đã cho quân đội đặt chân lên Việt Nam. Ông chỉ đạo: "Viết càng ngắn càng tốt. Chỉ mô tả sự kiện rồi khẳng định rằng chúng ta đã đồng ý mà thôi".

Sau khi Sài Gòn sụp đổ, ông và gia đình bị kẹt lại vì không kịp lên máy bay đi di tản. Ông không ra trình diện chính quyền mới và tìm cách vượt biên. Phan Huy Quát bị bắt giam vào nhà lao Chí Hòa rồi mất tại đó năm 1979.

Phan Huy Lê và Phan Huy Quát khi làm thủ tướng
Phan Huy Lê (trái) và Phan Huy Quát khi làm thủ tướng (phải)

Vũ Như Canh - Vũ Văn Mẫu

Vũ Như Canh sinh năm 1920 tại Hà Đông (nay thuộc Hà Nội). Ông là giáo sư, nhà giáo nhân dân và tiến sĩ toán - lý. Cha mẹ ông có cửa hàng buôn bán trên phố Hàng Nón. Nhưng ông không theo nghiệp kinh doanh mà theo đường học hành. Lúc nhỏ Vũ Như Canh rất ham chơi và bị lưu ban mấy năm. May mà được người anh trai là Vũ Văn Mẫu kèm cặp để rồi một năm học nhảy….4 lớp! Năm 1938 ông sang Pháp du học và tốt nghiệp Tiến sĩ Toán - Lý tại Trường Đại học Montpellier. Năm 1949 ông về nước tham gia giảng dạy tại Trường Đại học Khoa học Cơ bản Đông Dương ở Hà Nội.

Sau khi quân Pháp thua trận, ông từ chối di tản vào nam cùng anh trai mà ở lại Hà Nội. Vũ Như Canh trở thành một trong những giáo sư kỳ cựu của VNDCCH cùng với GS Lê Văn Thiêm, Ngụy Như Kon Tum, Dương Trọng Bái… GS Vũ Như Canh là người đặt nền móng cho Khoa Vật lý của cả 2 trường Đại học Sư phạm Hà Nội và Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội). Nhiều học trò của ông sau này đã trở nhành những nhà khoa học lỗi lạc như PGS-TS Vũ Thanh Khiết, GS-TS Đàm Trung Đồn, GS Đào Vọng Đức…

GS Đàm Trung Đồn nhớ lại một kỷ niệm với người thầy của mình như sau:

“Thời kì sắp tiếp quản Hà Nội, tôi cùng một số anh em trong Đoàn Thanh niên cứu quốc Hà Nội tổ chức đi vận động các thầy cô giáo không di cư vào Nam. Cùng với một anh nữa, tôi đến nhà thầy Vũ Như Canh, định bụng nói: Thầy ở lại đây để dạy cho chúng em. Đến nơi, chưa kịp nói gì thì thầy Canh đã nói: Tôi ở lại Hà Nội chứ tôi không đi vào Sài Gòn. Và thầy nói thêm: Chúng tôi phải ở lại. Sinh viên các anh ở lại thì chúng tôi cũng phải ở lại chứ”.

Vũ Văn Mẫu sinh năm 1914 tại Hà Đông. Ông là tiến sĩ luật và chính trị gia VNCH. Ông chính là anh trai của GS Vũ Như Canh. Ông bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ Luật tại Pháp năm 1940 rồi về nước giảng dạy. Sau Hiệp định Geneva ông di tản vào nam trong khi người em trai ở lại miền bắc. Từ đó 2 anh em mỗi người li biệt một nơi. Vũ Văn Mẫu được bổ nhiệm làm Chánh nhất Tòa Phá án VNCH. Ông được đánh giá là một học giả uy tín và uyên bác về luật. Vũ Văn Mẫu từng làm Tổng trưởng Ngoại giao VNCH từ 1955 đến 1963. Nhưng vì phản đối chính sách kỳ thị Phật giáo của Ngô Đình Diêm nên ông tự cạo đầu và từ chức.

Vũ Văn Mẫu cũng là thượng nghị sĩ VNCH và được Dương Văn Minh đề cử làm Thủ tướng 3 ngày trước khi Sài Gòn sụp đổ. Sau giải phóng ông được phép xuất cảnh sang Pháp định cư rồi mất tại đó năm 1998.

Vũ Như Canh và Vũ Văn Mẫu lúc trẻ
Vũ Như Canh (trái) và Vũ Văn Mẫu lúc trẻ (phải)

Lê Văn Huấn - Lê Văn Hoạch

Lê Văn Huấn, không rõ năm sinh năm mất, là giáo sư và nhà giáo yêu nước tại Cần Thơ. Ông chính là em trai của Lê Văn Hoạch - cựu Thủ tướng Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ do Pháp dựng lên. GS Lê Văn Huấn từng dạy học tại Trường Petrus Ký ở Sài Gòn (nay là Trường THPT Lê Hồng Phong). Ông tham gia phong trào chống Pháp cùng với các nhà cách mạng gạo cội ở miền nam như Thái Văn Lân, Nguyễn Hữu Thọ, Lưu Văn Lang, Kha Vạn Cân… Ông cũng là kỹ sư phát triển Đài Tiếng nói Nam Bộ trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Thông tin về ông không nhiều, chỉ biết chức vụ sau này của ông là Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Lê Văn Hoạch sinh năm 1898 tại Cần Thơ. Ông tốt nghiệp bác sĩ tại Hà Nội năm 1923. Ông theo đạo Cao Đài. Sau khi cựu Thủ tướng Nguyễn Văn Thinh thân Pháp tự sát, ông được Pháp đưa lên làm Thủ tướng Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ từ 1946 đến 1947. Vì chỉ là chức vụ bù nhin nên không có thực quyền. Sau khi VNCH thành lập thì ông không còn tham gia chính trường. Lê Văn Hoạch mất năm 1978 tại quê nhà.

Lê Văn Hoạch

Cao Văn Khánh - Cao Văn Chiểu, Cao Văn Tường

Cao Văn Khánh sinh năm 1917 tại Huế. Ông thuộc dòng dõi quý tộc Cao Văn nổi tiếng của Nhà Nguyễn. Ông tốt nghiệp Cử nhân Luật tại Viện Đại học Đông Dương (nay là Đại học Quốc gia Hà Nội) và từng sinh hoạt Hướng đạo tại Pháp. Nhờ hoạt động hướng đạo mà ông quen biết với Tạ Quang Bửu, Phan Anh… những người về sau trở thành những nhà cách mạng nổi tiếng. Khi Đế quốc Việt Nam được Nhật Bản hậu thuẫn thành lập ông được mời tham gia trường Quân sự Thanh niên Tiền tuyến.

Khi Cách mạng Tháng Tám bùng nổ ông bỏ chính phủ Trần Trọng Kim theo Việt Minh và giữ chức Phó Chủ tịch Giải phóng quân Huế. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp ông từng theo đoàn quân Nam tiến vào bảo vệ Bình Định. Cao Văn Khánh lần lượt giữ các chức vụ Khu trưởng Khu V, Phó Chỉ huy Ủy ban Hành chính Kháng chiến Miền Nam, Đại đoàn phó Đại đoàn 308 v.v… Ông đã trải qua những trận đánh giòn giã như Sông Thao (1949), Biên Giới (1950), Quang Trung (1952), Thượng Lào (1953) và Điện Biên Phủ (1954). Trong chiến dịch Biên giới, ông là người đánh gục Binh đoàn Le Page và Binh đoàn Charton, bắt sống tướng Charton. Sang thời kỳ kháng chiến chống Mỹ ông được sang học quân sự tại Liên Xô rồi về nước làm Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục Quân. Từ năm 1966 Cao Văn Khánh tiếp tục đi khắp chiến trường Trị Thiên, Hạ Lào, Tây Nguyên… Ông chính là cánh tay phải đắc lực của tướng Lê Trọng Tấn trong chiến thắng Hạ Lào oanh liệt năm 1971 (phía Mỹ gọi là Chiến dịch Lam Sơn 719). Ngoài ra ông cũng biên soạn “Năm phương thức tác chiến trong chiến tranh bảo vệ Tổ Quốc” để chuẩn bị cho cuộc chiến tranh với Trung Quốc năm 1979.

Cao Văn Khánh được phong hàm Trung tướng QDNDVN năm 1980, cũng là năm ông mất. Điều thú vị là ông chưa bao giờ là đảng viên Đảng Cộng sản. Ông có 3 người anh trai là Cao Văn Huy, Cao Văn Chiểu và Cao Văn Tường. Cả 4 anh em đều tốt nghiệp ngành luật.

Cao Văn Chiểu, không rõ năm sinh năm mất, từng là thành viên Viện Dân biểu Trung Kỳ thời Pháp thuộc. Khi Pháp muốn sử dụng chiều bài Bảo Đại để lôi kéo người Việt, ông Chiểu đã cùng phái đoàn do Phan Văn Giáo dẫn đầu sang Hồng Kông thuyết phục Bảo Đại về nước chấp chính. Sau khi VNCH được Mỹ hậu thuẫn thành lập, ông là Chủ tịch Ủy ban Văn hóa Giáo dục Quốc hội VNCH. Ông được xem là một trong những cố vấn gần gũi của Ngô Đình Diệm. Từ năm 1974 ông là Đại sứ VNCH tại Ý. Số phận của ông về sau không rõ.

Cao Văn Tường, không rõ năm sinh năm mất, từng 3 lần đắc cử dân biểu VNCH. Ông từng giữ chức Phó Chủ tịch Quốc hội VNCH (1956-1963) và Bộ trưởng Đặc trách Liên lạc Quốc hội thời Nguyễn Văn Thiệu (1969). Sau năm 1975 ông đi cải tạo vài năm rồi sang định cư nước ngoài.

Riêng Cao Văn Huy thì làm nhà giáo ở miền nam và không tham gia vào chính trị.

Cao Văn Khánh cùng vợ - Tôn Nữ Ngọc Toản (ảnh trái), và Cao Văn Chiểu khi cùng phái đoàn đến Hồng Kông gặp Bảo Đại (ảnh phải, bìa trái)
Cao Văn Khánh cùng vợ - Tôn Nữ Ngọc Toản (ảnh trái), và Cao Văn Chiểu khi cùng phái đoàn đến Hồng Kông gặp Bảo Đại (ảnh phải, bìa trái)

Lâm Thị Phấn - Lâm Văn Phát

Lâm Thị Phấn sinh năm 1918 tại Cần Thơ với tên khai sinh rất Tây là Lâm Thị Elise. Cha là Lâm Văn Phận, một đại điền chủ nhưng theo Việt Minh chống Pháp. Bà có một người em trai là Lâm Văn Phát - Trung tướng Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Thuở nhỏ bà theo học tại Trường Taberd Cần Thơ (nay là Trường Châu Văn Liêm). Cao 1m7 với khuôn mặt sắc sảo, bà được mệnh danh là “Người đẹp Tây Đô” thời đó. Thời kỳ chống Pháp bà tham gia Hội Phụ nữ Cứu quốc của Việt Minh tại Bạc Liêu. Nhờ trình độ học vấn cao, lại xuất thân từ điền chủ, bà được tuyển vào đội điệp báo Cần Thơ. Chính Lâm Thị Phấn đã giác ngộ một Quan hai Phòng nhì Pháp là Trần Hiến, người sau này trở thành chồng bà.

Sau Hiệp định Geneva Lâm Thị Phấn cùng chồng và cha tập kết ra bắc. Bà đi học Đại học Kinh tế và Đại học Tình báo tại Liên Xô. Năm 1962 Trung ương Cục miền Nam ra lệnh bà trở vào nam hoạt động nội tuyến vì có người em ruột là sĩ quan VNCH. Sau khi chiến tranh kết thúc bà về công tác tại Quân khu 9 với cấp bậc Đại tá. Lâm Thị Phấn mất năm 2010 tại quê nhà.

Lâm Văn Phát sinh năm 1920 tại Cần Thơ. Năm 1945 ông có theo chân cha và chị gái tham gia Thanh niên Tiền phong cướp chính quyền. Nhưng khi Pháp trở lại miền nam ông bỏ kháng chiến về lại Cần Thơ rồi nhập ngũ quân đội Pháp. Sau khi tốt nghiệp trường sĩ quan của Pháp, ông đào ngũ ra bưng theo Vệ Quốc Đoàn. Được một thời gian ông lại về thành rồi sang Pháp học cơ khí. Mãn khóa học ông về nước và tiếp tục phục vụ quân đội Pháp.

Sau năm 1954, cha và chị gái tập kết ra bắc, Lâm Văn Phát ở lại nam phục vụ QLVNCH. Dù phục vụ khác chiến tuyến nhưng ông vẫn chăm sóc người con của chị mình chu đáo và cho ăn học tử tế. Năm 1958 ông được cử đi du học quân sự tại Mỹ. Lâm Văn Phát từng làm Tổng Giám đốc Bảo Nha Bảo an và Dân vệ, Tư lệnh Sư đoàn 2 Bộ binh rồi Phó Tư lệnh Vùng 3 Chiến thuật. Vì quá khứ đổi phe nhiều lần nên người Mỹ và VNCH không tin tưởng khiến ông bất mãn. Ông đã tham gia đảo chính 4 lần với hy vọng được thăng tiến. Tại cuộc binh biến năm 1964 ông cùng Phạm Ngọc Thảo đối đầu với tướng Nguyễn Khánh và Nguyễn Chánh Thi nhưng thất bại. Năm 1965 nhóm tướng trẻ khai trừ ông khỏi quân đội và tước hết quân hàm. Năm 1975 ông được Dương Văn Minh cử làm Tư lệnh Biệt khu Thủ đô những ngày cuối cùng. Thành tích tốt nhất của ông đó là…. bàn giao Bộ Tư lệnh Thủ đô cho QGP. Sau khi đi cải tạo 11 năm ông sang Mỹ định cư và mất tại đó năm 1998.

Lâm Thị Phấn cùng diễn viên Việt Trinh khi đóng bộ phim
Lâm Thị Phấn cùng diễn viên Việt Trinh khi đóng bộ phim"Người Đẹp Tây Đô" (ảnh trái), và Lâm Văn Phát (ảnh phải)

Doãn Nho - Doãn Quốc Sỹ

Doãn Nho sinh năm 1933 tại Hà Nội. Ông là nhạc sĩ nhạc cách mạng nổi tiếng và là Đại tá QDNDVN. Năm 1945 ông tham gia Đội Thiếu niên Cứu quốc của Việt Minh. Nhờ có khiếu âm nhạc từ nhỏ ông được vào đội văn công Trường Lục quân (1951) và Đoàn văn công Tổng cục Chính trị (1954). Từ 1962 đến 1964 ông du học tại Nhạc viện Kiev ở Liên Xô. Về nước ông vào chiến trường miền nam, vừa chiến đấu vừa sáng tác âm nhạc.

Doãn Nho là tác giả nhiều ca khúc cách mạng nổi tiếng như “Tiếng bước dưới quân kỳ” (một trong những quân ca chính thức của QDNDVN), “Năm anh em trên một chiếc xe tăng”, “Chiếc khăn piêu” v.v… Ông đoạt nhiều giải thưởng lớn như Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật (2001) và Giải thưởng Hồ Chí Minh (2017).

Doãn Quốc Sỹ sinh năm 1923 tại Hà Nội. Ông là nhà văn thời VNCH và chính là anh trai của nhạc sĩ Doãn Nho. Doãn Quốc Sỹ lập gia đình với bà Hồ Thị Thảo (là con gái của nhà thơ Tú Mỡ của VNDCCH) rồi di cư vào nam năm 1954. Ông từng giảng dạy tại Trường Trung học Hồ Ngọc Cẩn ở Sài Gòn (1961-1962, nay là Trường Tiểu học Nguyễn Đình Chiểu), Đại học Sư Phạm Sài Gòn và Đại học Văn khoa Sài Gòn (1962-1965).

Doãn Quốc Sỹ là nhà văn nổi tiếng thời VNCH với các tác phẩm như “Khu Rừng Lau”, “Ba Sinh Hương Lửa”, “Người Đàn Bà Bên Kia Vĩ Tuyến” v.v… Nhiều tác phẩm của ông chỉ trích Việt Minh và VNDCCH. Do đó mà sau năm 1975 ông phải đi cải tạo 14 năm trời. Chính quyền liệt ông vào danh sách những tên “Biệt kích văn hóa”. Đây là một trường hợp tréo ngoe khi cả 2 anh em ruột phụng sự văn hóa cho 2 chế độ khác nhau. Trong khi người em là nhạc sĩ với các giải thưởng cấp Nhà nước thì người anh bị liệt vào hàng ngũ “nhà văn chống phá cách mạng”. Ông di cư sang Mỹ năm 1995.

Doãn Nho cùng vợ - ca sĩ Nguyệt Ánh (ảnh trái), và Doãn Quốc Sỹ ở Mỹ (ảnh phải)
Doãn Nho cùng vợ - ca sĩ Nguyệt Ánh (ảnh trái), và Doãn Quốc Sỹ ở Mỹ (ảnh phải)

Đặng Văn Quang - Đặng Mỹ Dung

Đặng Văn Quang, còn có tên là Đặng Quang Minh, sinh năm 1909 tại Vĩnh Long. Ông là nhà giáo yêu nước và hoạt động cho Việt Minh từ trẻ. Ông từng bị Pháp bắt đầy ra Côn Đảo từ 1940 tới 1945. Sau khi Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước VNDCCH, ông tham gia Tổng tuyển cử và trúng cử Đại biểu Cần Thơ của Quốc hội VNDCCH đầu tiên. Vợ ông là bà Trần Thị Pham, có 7 người con, trong đó có Đặng Mỹ Dung. Suốt 9 năm chống Pháp gia đình ông chuyển chỗ ở thường xuyên để tránh sự truy lùng của mật vụ Pháp và tay sai. Nơi ở của ông cũng là nơi các lãnh đạo Việt Minh thường lui tới họp như Lê Đức Thọ, Mai Chí Thọ…

Sau khi Pháp thất trận, Đặng Văn Quang cùng người con trai lớn là Đặng Văn Khôi tập kết ra bắc. Ông đã cố gắng thuyết phục vợ cùng gia đình ra bắc, nhưng vợ và nhà ngoại có tư tưởng thủ cựu không chấp nhận lý tưởng cộng sản nên ở lại. Trước khi từ biệt ông buộc lòng phải đổi giấy tờ của những người con ở lại nam sang họ Trần của mẹ để tránh tai mắt của Mỹ, và hủy đi tất cả hình ảnh gia đình có mặt ông trong đó. Đặng Văn Quang tham gia ngành ngoại giao VNDCCH. Một thời gian ông trở lại miền nam tham gia lãnh đạo MTDTGPMN. Ông là Đại sứ Cộng hòa Miền Nam Việt Nam tại Liên Xô tới năm 1975. Sau khi thống nhất đất nước ông Quang tiếp tục làm ngoại giao và cố gắng liên lạc với vợ và các con tại Mỹ, nhưng ông không ngờ đó lại bắt đầu một chuỗi bi kịch gia đình. Đặng Văn Quang qua đời năm 1986 tại TP HCM. Còn người con trai lớn Đặng Văn Khôi gia nhập QDNDVN và tốt nghiệp sĩ quan tên lửa tại Liên Xô.

Đặng Mỹ Dung sinh năm 1945 tại Cần Thơ. Bà là con gái của cựu Đại sứ Đặng Văn Quang. Thời VNCH bà làm việc cho phòng tâm lý chiến Vùng IV chiến thuật và Câu lạc bộ Rex BOQ của Mỹ. Vì người cha đã sửa lại giấy khai sinh nên bà lớn lên với tư cách “không cha”. Năm 1968 bà kết hôn với trung úy hải quân Mỹ là John Krall, nên sau này bà lấy tên Mỹ là Yung Krall.

Vào những ngày cuối tháng 4 năm 1975, Đặng Mỹ Dung cố gắng đưa mẹ và chị em còn lại sang Mỹ. Bà năn nỉ người sĩ quan tư lệnh phó của Mỹ và hứa sẽ cộng tác với chính phủ Mỹ, chỉ cần gia đình bà được di tản khỏi Việt Nam. Sau này tại Mỹ, bà giữ đúng lời hứa, gia nhập làm đặc vụ CIA. Nhân dịp phái đoàn CHMNVN sang Tokyo dự hội nghị quốc tế, CIA yêu cầu bà bay sang gặp cha. 2 cha con gặp nhau sau 20 năm, nhưng sự khác biệt trong ý thực hệ quá lớn nên không thể hiểu nhau. Bà đã nói thẳng vào mặt cha mình: “Chế độ của ba đã cướp nước của con”. Cha bà trả lời: “Ba không tìm cách thay đổi con nhưng xin con đừng dày xéo những xác tín của Ba… Nếu con thoải mái với điều con tin tưởng thì Ba cũng mừng thấy con hài lòng!”.

Đặng Mỹ Dung tiếp tục lợi dụng tình cảm với cha mình theo lệnh của CIA để thâm nhập vào cán bộ và Đại sứ quán Việt Nam tại Mỹ và Pháp. Nhờ những hoạt động của bà mà CIA vây bắt được điệp viên Ronald Humphrey và Trương Đình Hùng khi sắp chuyển tài liệu mật cho Đại sứ Đinh Bá Thi tại New York. Dung cũng là cộng sự đắc lực giúp Mỹ phá vỡ các tổ chức Việt kiều và người Mỹ “thân Việt Nam” tại Washington D.C, San Francisco… Thậm chí bà còn từng cố gắng lôi kéo anh trai Đặng Văn Khôi bỏ sang Mỹ nhưng không thành. Theo cuốn hồi ký của bà, bà từng thảo luận với CIA bắt cóc cha và anh trai khi 2 người sang Mỹ thăm gia đình, nhưng cuối cùng đành từ bỏ vì biết cha mình sẽ không bao giờ phản bội lại lý tưởng. Sau chuyện đó bà xin nghỉ việc dù CIA cố gắng níu giữ với lời hứa hẹn tăng lương và thăng cấp.

Gia đình ông Đặng Văn Quang có thể xem là bi kịch bật nhất của cuộc chiến khi vợ - chồng, cha - con, anh - em vĩnh viễn không thể nhìn mặt nhau. Những hy sinh của người cha để bảo vệ các con được trả bằng sự phản bội từ chính con ruột của mình.

Đặng Văn Quang khi là Đại sứ CHMNVN tại Liên Xô (ảnh trái, bìa trái), Đặng Mỹ Dung hiện nay khi ở Mỹ (ảnh phải) và Đặng Văn Khôi trong ngày tốt nghiệp sĩ quan tại Liên Xô (ảnh dưới)
Đặng Văn Quang khi là Đại sứ CHMNVN tại Liên Xô (ảnh trái, bìa trái), Đặng Mỹ Dung hiện nay khi ở Mỹ (ảnh phải) và Đặng Văn Khôi trong ngày tốt nghiệp sĩ quan tại Liên Xô (ảnh dưới)

Cao Xuân Huy, Cao Xuân Hạo - Cao Xuân Vỹ

Cao Xuân Huy sinh năm 1900 tại Nghệ An. Ông là con của cựu Thượng thư Cao Xuân Tiếu thời nhà Nguyễn, và là cháu nội của cựu Tổng đốc Cao Xuân Dục. Ông chính là cha đẻ của nhà nghiên cứu Cao Xuân Hạo. Thuở nhỏ ông theo học chữ Hán, sau này tiếp cận nền giáo dục của thực dân Pháp. Ông vừa đi dạy vừa tham gia phong trào yêu nước chống thực dân. Ông từng giảng dạy tại nhiều trường ở Huế, Sài Gòn. Sau khi VNDCCH được thành lập, ông được mời ra giảng dạy môn triết học phương Đông. Ông là giáo sư khoa văn Trường Đại học Việt Nam tại chiến khu IV, rồi Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội và Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Ông chuyên nghiên cứu về Trung Quốc học, Nho giáo, Lão giáo, nhận thức luận, cấu trúc luận, văn hóa Việt Nam cổ đại, thậm chí là Thuyết Tiến Hóa của Darwin. Là nhà triết học và ngôn ngữ học có tiếng, ông được cử làm Trưởng ban Hán - Nôm thuộc Viện Văn học năm 1959. Cao Xuân Huy mất năm 1983 tại TP HCM.

Cao Xuân Hạo sinh năm 1930 tại Hà Nội. Cha ông là Cao Xuân Huy, ông nội là Cao Xuân Tiếu. Ông là giáo sư ngôn ngữ học và dịch giả nổi tiếng của Việt Nam. Ông có người anh họ là Cao Xuân Vỹ - cựu lãnh đạo phong trào thanh niên của VNCH. Cả 2 người đều thuộc dòng dõi Cao Xuân nổi tiếng ở Nghệ An với các nhà danh sĩ như Cao Xuân Dục (ông cố), Cao Xuân Tiếu (ông nội)…Nhờ có cha cũng là giáo sư nên từ nhỏ ông được cho ăn học tử tế. Ông tự học và nói lưu loát tiếng Pháp. Ông từng làm giảng viên khoa ngôn ngữ tại Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Trường Đại học Quốc gia Hà Nội). Ông chuyên nghiên cứu về cấu trúc Tiếng Việt và dịch nhiều sách nước ngoài nổi tiếng như “Chiến tranh và hòa bình”, “Người con gái viên đại úy”, “Tộc ác và hình phạt”, “Khải Hoàn Môn” v.v… Ông được trao tặng Giải thưởng về Dịch thuật của Hội Nhà văn năm 1985. Cao Xuân Hạo mất năm 2007 tại TP HCM.

Cao Xuân Vỹ sinh năm 1920 tại Nghệ An. Cha ông là Cao Xuân Tảo - anh ruột của Cao Xuân Huy. Ông và Cao Xuân Hạo là anh em họ, đều là cháu nội của Cao Xuân Tiếu. Ông từng tham gia phong trào Việt Minh giai đoạn đầu rồi bỏ sang Việt Cách. Ông gặp gỡ Ngô Đình Diệm rồi gia nhập Đảng Cần lao. Dù là phật tử nhưng ông là người ủng hộ nhiệt tình chế độ Diệm - Nhu. Ông từng giữ chức Tổng Giám đốc Thanh niên và Thể thao (thuộc Bộ Lao động và Thanh niên) và Phó Thủ lãnh Phong trào Thanh niên Cộng hòa (Thủ lãnh là Ngô Đình Nhu). Cao Xuân Vỹ được xem là nhân chứng lịch sử vì từng tháp tùng Ngô Đình Nhu đi thương thuyết với đại diện VNDCCH là Phạm Hùng về vấn đề hiệp thương giữa 2 chế độ. Ông cũng là người ở bên cạnh anh em nhà Ngô khi xảy ra đảo chính năm 1963. Ông bị quân đảo chính giam giữ đến tận năm 1967 mới thả. Sau giải phóng ông sang Mỹ định cư rồi mất tại đó năm 2013.

Cao Xuân Huy cùng các đồng đội tại chiến khu (ảnh trái, bìa trái), Cao Xuân Vỹ ở Mỹ (ảnh phải) và Cao Xuân Hạo (ảnh dưới)
Cao Xuân Huy cùng các đồng đội tại chiến khu (ảnh trái, bìa trái), Cao Xuân Vỹ ở Mỹ (ảnh phải) và Cao Xuân Hạo (ảnh dưới)

Nguyễn Phúc Ưng Úy - Nguyễn Phúc Bửu Hội

Nguyễn Phúc Ưng Úy sinh năm 1889 tại Huế, thuộc dòng dõi hoàng thất Nhà Nguyễn, nhánh Tuy Lý Vương. Khi mới 16 tuổi ông được bổ nhiệm vào làm ở Tòa Công sứ Thừa Thiên. Năm 1915 ông được phong Tư vụ Bộ Lại. Từ năm 1916 đến 1942 ông giữ các chức Tri huyện, Tri phủ, Án sát, Bố chánh, Tổng đốc của nhiều địa phận khác nhau. Hoàng thân Ưng úy từng tham gia Phái đoàn Kinh tế Cộng hòa Pháp sang đàm phán tại Tokyo năm 1940. Năm 1942 Bảo Đại cho ông giữ chức Thượng thư Bộ Công và là 1 trong 6 thành viên của Hội đồng Cơ Mật.

Dù xuất thân hoàng tộc nhưng Hoàng thân Ưng Úy có cảm tình với cách mạng và Việt Minh. Ông từ chối cộng tác với thực dân Pháp và chế độ bù nhìn Bảo Đại. Năm 1949 theo lời mời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông ra vùng tự do, kêu gọi đoàn kết chống Pháp. Khi nhận được thư viết tay của Hồ Chủ Tịch, cụ Ưng Úy ngồi lặng một lúc rồi nói:

"Cụ Hồ thiệt nhơn đức. Ổng đã cứu thằng cháu ta thoát khỏi đoạn đầu đài, còn cho ngôi Cố vấn tối cao. Vậy mà... chừ nó lại ký cái hiệp ước Élysée, nhận mần vai quốc trưởng ô nhục như rứa... Từ lâu tui ưng ra với mặt trận mà chưa đặng. Lúc ni thuận dịp xin cho tui ra để trực tiếp đứng trong hàng ngũ, noi theo gương Cụ Hồ chống ngoại xâm".

Vì đường từ Huế lên chiến khu Dương Hòa (thuộc Thừa Thiên - Huế) cực kỳ khó khăn nên cán bộ chiến sĩ Việt Minh phải thay nhau gánh võng đưa Hoàng thân Ưng Úy ra chiến khu. Đến nơi, cụ tuyên bố:

"Tôi vốn là cựu quan chức Nam triều và là người trong hoàng gia - nay thực dân Pháp thực hiện mưu mô lấy người Việt trị người Việt, tôi phẫn uất quá nên phải lìa nhà lên chiến khu, nguyện theo Chính phủ để giúp một đôi phần hiểu biết vào công cuộc kháng chiến cho đỡ một phần uất trong lúc tuổi già".

Từ Chiến khu Dương Hòa ông tiếp tục đi ra Liên khu IV (gồm Thanh-Nghệ-Tĩnh) và làm Trưởng ban Vận động Tòng quân của Liên khu IV. Nguyễn Phúc Ưng Úy mất năm 1970.

Nguyễn Phúc Bửu Hội sinh năm 1915 tại Huế. Ông là con của Hoàng thân Ưng Úy. Ông từng theo học ngành y tại Viện Đại học Đông Dương. Ông du học Pháp từ năm 1935 và quen biết với Ngô Đình Nhu từ đây. Tại Pháp ông trở thành tiến sĩ khoa học chuyên về hóa học hữu cơ và tổng hợp dược phẩm. Khi Chiến tranh Thế giới thứ 2 bùng nổ, ông gia nhập quân đội Pháp một thời gian rồi trở lại Paris làm nghiên cứu. Ông cũng công bố nhiều công trình khoa học về ung thư và năng lượng hạt nhân.

Bửu Hội từng được Chủ tịch Hồ Chí Minh mời làm Hiệu trưởng Trường Đại học Hà Nội năm 1947, nhưng chỉ được một thời gian ngắn. Sau khi Pháp rút về nước, ông ủng hộ Ngô Đình Diệm thâu tóm quyền hành và tiêu diệt các lực lượng nổi loạn của Bình Xuyên, Cao Đài, Hòa Hảo… Năm 1960 ông được Ngô Đình Diệm cử làm cố vấn khoa học chính phủ và Giám đốc Viện Nguyên tử Đà Lạt. Ngoài ra ông cũng từng là đại sứ VNCH tại nhiều nơi.

Khi phong trào Phật giáo bùng nổ, mẹ của Bửu Hội là Sư bà Diệu Huệ (tên thật là Hồ Thị Huyên) cùng Sư bà Diệu Không (dì ruột của Bửu Hội) công khai chống Diệm và biểu tình tại Chùa Xá Lợi Sài Gòn. Từ đây 2 mẹ con đối đầu nhau. Bị giằng xé giữa gia đình và lí tưởng, Bửu Hội cố gắng làm trung gian đàm phán giữa chính phủ và Phật tử, nhưng không thành. Ngày 21/8/1963 ông Nhu ra lệnh Lực lượng Đặc biệt tấn công hàng loạt chùa chiền để tiêu diệt “mầm mống phản loạn”. Dù thất vọng nhưng Bửu Hội vẫn đồng ý đứng ra bảo vệ VNCH tại Liên Hợp Quốc. Vì hành động đó mà mẹ ông đau lòng và họp báo công khai từ mặt con trai mình. Sau đảo chính năm 1963, ông rời Việt Nam sang Pháp định cư rồi mất tại đó năm 1972.

Nguyễn Phúc Ưng Úy (ảnh trái) và Nguyễn Phúc Bửu Hội (ảnh phải)
Nguyễn Phúc Ưng Úy (ảnh trái) và Nguyễn Phúc Bửu Hội (ảnh phải)

==========================

* Thông tin về các nhân vật lịch sử trong bài viết được tổng hợp từ nhiều nguồn như Báo An Ninh Thế Giới, sách Nam Bộ - Những Nhân Vật Vang Bóng Một Thời của Nguyên Hùng, sách Hồi ký Tướng Tá Sài Gòn Xuất Bản Tại Hải Ngoại của Mai Nguyễn, Wikipedia, các bài phóng sự nhiều kỳ trên Báo Tuổi Trẻ và Thanh Niên v.v...

Bao HG Tran

5 ( 3 bình chọn )

Khám Phá Lịch Sử

https://khamphalichsu.com
Những quan điểm, góc nhìn về lịch sử qua các bài viết tìm hiểu, nghiên cứu, khám phá lịch sử Việt Nam, lịch sử thế giới, văn hóa Việt Nam, văn hóa thế giới

Cùng chủ đề

Bài viết mới