Lịch sử thế giới

Lịch sử, nguồn gốc của các giống chó Nhật Bản

Các giống chó Nhật Bản được cả thế giới biết đến nhưng về lịch sử, nguồn gốc các giống chó Nhật này không phải ai cũng biết. Hãy cùng Khám Phá Lịch Sử tìm hiểu qua bài viết sau đây.
19/03/2021 01h:34 1.28K
Lịch sử, nguồn gốc của các giống chó Nhật Bản
Lịch sử, nguồn gốc của các giống chó Nhật Bản

Chó Nhật Bản thời đồ đá cũ

Nhóm cư dân đầu tiên đặt chân đến Nhật Bản - người Jomon - được xem là những người đầu tiên đưa theo loài chó đến quần đảo này cách đây khoảng mười đến mười hai ngàn năm. Vết tích bộ xương chó cổ nhất được phát hiện tại Nhật Bản có niên đại khoảng năm 7500 TCN và được khai quật tại một gò vỏ sò ở thành phố Yokosuka, huyện (1) Kanagawa.

Bạn đang xem: Lịch sử, nguồn gốc của các giống chó Nhật Bản

Khu vực phát tích của sáu giống chó Nhật bản địa, kèm theo hình vẽ mình hoạ của từng giống. Giống vóc nhỏ gồm có Shiba; giống vóc vừa gồm có Kishu, Shikoku, Hokkaido và Kai; giống vóc lớn có Akita.
Khu vực phát tích của sáu giống chó Nhật bản địa, kèm theo hình vẽ mình hoạ của từng giống. Giống vóc nhỏ gồm có Shiba; giống vóc vừa gồm có Kishu, Shikoku, Hokkaido và Kai; giống vóc lớn có Akita. (Ảnh: nihonken.pedigreedatabaseonline.com)

Hai vết tích khác cũng được tìm thấy ở một khu vực thuộc huyện Aichi với niên đại năm 6000 TCN và một khu vực thuộc huyện Kanagawa với niên đại năm 5500 TCN. Hiện vật xương khai quật được cho thấy những con chó ở Nhật Bản thời kỳ đầu có kích thước nhỏ. Cũng trong thời kỳ đó, loài chó sói đang phát triển mạnh ở Nhật Bản.

Tuy nhiên, chó sói Nhật có kích thước cơ thể lớn hơn so với chó Nhật, do đó có thể loại trừ khả năng những chú chó này là chó sói được con người thuần hoá.

Người Jomon sống nhờ săn bắt và hái lượm. Về sau, họ định cư trên toàn bộ lãnh thổ Nhật Bản, tập trung chủ yếu tại đảo Honshu và không thể thiếu chó là người bạn đồng hành. Nền văn hoá Jomon kéo dài gần mười ngàn năm, từ năm 10.000 đến năm 300 TCN, và trong suốt thời kỳ đó, chó có thể là thú nuôi trong nhà duy nhất của người Jomon. Chúng được xem là những “trợ thủ” trong việc đi săn.

Người Jomon hẳn rất gắn bó với những “người bạn đồng hành” này: khi những con chó chết đi, họ sẽ chôn cất chúng. Điều này được thể hiện rất rõ qua hiện trạng của những bộ hài cốt chó khai quật được: chúng được chôn cất rất cẩn thận trong nhiều di chỉ mai táng thuộc thời kỳ Jomon. Ví dụ cổ nhất cho mô tả trên là bộ hài cốt chó được tìm thấy trong một hang động ở Kamikuroiwa thuộc huyện Ehime, niên đại năm 6600 TCN.

Xem xét hiện vật xương khai quật được, ta thấy chó Nhật thời kỳ đầu có vóc dáng nhỏ, gần như tương tự với giống Shiba hiện nay. Ngoài ra, hộp sọ của chúng có hai đặc trưng khu biệt là mõm dài và khoảng hụt trán rất nông hoặc không có khoảng hụt trán.

Chúng thường được xem là tổ tiên của sáu giống chó Nhật hiện đại, nói cách khác, nguyên mẫu của các giống chó Nhật đã được hình thành ngay từ thời Jomon. Những tạo hình của loài chó bằng đất nung và đất sét cũng được tìm thấy ở huyện Tochigi với dáng tai vểnh và đuôi cong, rất giống với những giống bản địa hiện tại.

Sau thời kỳ Jomon là thời kỳ Yayoi, được đánh dấu bằng một đợt di cư mới của người Yayoi từ bán đảo Triều Tiên sang Nhật Bản. Thời kỳ Yayoi kéo dài sáu trăm năm (300 TCN - 300 SCN). Dấu tích xương chó thuộc thời kỳ Yayoi được khai quật tại những mô đất mai táng Kuwanae, huyện Oita và Yoshinogari, huyện Saga.

Cả hai đều có niên đại khoảng hai ngàn năm trước và thể hiện nhiều điểm khác biệt so với chó thời Jomon. Hộp sọ của chúng có khoảng hụt trán rộng, khung xương hơi lớn hơn so với quần thể chó trước đó. Những bằng chứng trên gợi lên khả năng về một quần thể chó khác đã cùng đoàn người mới di chuyển từ lục địa ra Nhật Bản trong thời kỳ Yayoi.

Sơ đồ chú thích các thành phần trên khuôn mặt chó (lấy ví dụ từ giống chó Akita), trong đó
Sơ đồ chú thích các thành phần trên khuôn mặt chó (lấy ví dụ từ giống chó Akita), trong đó "stop" (2) là khoảng hụt xuống ở giữa hai mắt, nơi trán và mũi giao nhau. (Ảnh: guardianakita-kennel.com)

Những thay đổi đối xử với chó của người Nhật

Sự cẩn thận và kỹ càng trong việc chôn cất chó tại các di chỉ Jomon đã không còn hiện hữu trong các di chỉ Yayoi. Hầu hết các bộ xương chó thời kỳ này đều phân tán, không còn nguyên vẹn, xuất hiện nhiều vết cắt xẻ, phần cơ thịt có dấu hiệu bị kéo xé mạnh. Điều này cho thấy người Yayoi đã dùng chó làm thực phẩm, một cơ sở khác để chứng tỏ người Yayoi có một nền văn hoá khác biệt hoàn toàn so với người Jomon.

Tập quán sử dụng chó làm thức ăn dần chấm dứt kể từ đầu thế kỷ VII, khi Phật giáo với tư tưởng cấm sát sinh động vật được truyền bá đến Nhật Bản. Ngoài ra, một niềm tin cổ xưa ở Nhật Bản xem thịt và máu là nguồn gốc của những thứ ô uế cũng góp phần chấm dứt tập tục ăn thịt chó. Năm 696, Thiên hoàng Tenmu ban dụ cấm ăn thịt bò, ngựa, chó, khỉ và gà từ tháng năm đến tháng mười âm lịch (gần tương ứng với tháng sáu đến tháng mười một dương lịch). Điểm đáng chú ý là chỉ dụ trên không cấm việc ăn thịt lợn rừng, hươu nai và cá.

Bộ sử chính thống cổ nhất của Nhật Bản, “Nihon Shoki | Nhật Bản thư kỷ” (hoàn tất năm 720), ghi lại rằng trong suốt thời kỳ trị vị của thiên hoàng Ankan (khoảng 531-535), thương khố (kho vựa) được dựng lên ở các địa hạt để trữ thóc lúa đóng thuế. Những thương khố này được một nhóm người đặc biệt coi sóc với tên gọi Inukai-be (bộ phận nuôi chó), cho thấy chó không chỉ được dùng để đi săn và canh giữ chung mà còn được dùng để đuổi chuột, bảo vệ lúa thóc. Đây cũng là bằng chứng cho việc con người đã sử dụng chó làm công cụ lao động từ rất sớm.

Trong thời kỳ Yayoi và thời kỳ Kofun sau đó (khoảng 300-650 SCN), đã có ít nhất hai nhóm chó khác nhau được đưa đến Nhật Bản (gọi chung là nhóm chó sau). Vào khoảng thế kỷ VIII, bộ gen của nhóm chó sau (đến vào thời kỳ Yayoi và Kofun) dần lai nhập với nhóm chó trước đó đã tồn tại từ thời Jomon và ổn định thành một giống chó bản địa Nhật. Ngay trong tranh vẽ thời kỳ Heian (794-1185) và Kamakura (1185-1333), ta bắt gặp những con chó tai vểnh, đuôi quăn dày lông – hai điểm đặc trưng của chó Nhật Bản.

Sơ đồ so sánh khoảng hụt trán trên hộp sọ của chó thời Jomon (năm 2300 TCN) và thời Kofun (năm 400 SCN), trong đó, đường A là đường sống trán, đường B là đường sống mõm. Có thể thấy chó thời Jomon có khoảng hụt trán (khoảng cách giữa hai đường A, B) nông hơn so với chó thời Kofun.
Sơ đồ so sánh khoảng hụt trán trên hộp sọ của chó thời Jomon (năm 2300 TCN) và thời Kofun (năm 400 SCN), trong đó, đường A là đường sống trán, đường B là đường sống mõm. Có thể thấy chó thời Jomon có khoảng hụt trán (khoảng cách giữa hai đường A, B) nông hơn so với chó thời Kofun. (Ảnh: shiba-dog.de)

Trong hơn 1200 năm kể từ khi Phật giáo giữ ảnh hưởng chủ đạo trong nền văn hoá Nhật Bản, tập tục ăn thịt về cơ bản bị bãi bỏ; khi đó chó được dùng để cảnh giới và săn thú. Sang đến thời Edo (1603-1867), người dân Nhật Bản cũng bắt đầu nuôi chó làm thú cưng.

Giống chó Chin tí hon được mang từ Trung Quốc sang Nhật Bản hơn một ngàn năm trước trở thành mẫu chó cưng đặc biệt thịnh hành, từ Shogun | Tướng quân đến các quý tộc, gia đình samurai địa vị cao đều nuôi Chin làm thú cảnh. Chin ngày càng được ưa chuộng, thậm chí thường dân ở Edo (Tokyo hiện nay) cũng bắt đầu nuôi chúng. Hình tượng của chúng được lưu lại phổ biến trong các tác phẩm tranh ukiyoe và các dòng tranh khác thuộc thời kỳ Edo.

Tokugawa Tsunayoshi (1646-1709), một Tướng quân Edo, đã thông qua loạt chỉ dụ mang tên “Shōruiawareminorei” (Chỉ lệnh thương xót các loài sinh vật) nhằm ngăn cấm hành vi ngược đãi động vật. Kể từ năm 1687, các chỉ lệnh của ông ngày càng được thi hành rộng rãi, tạo ra ảnh hưởng sâu rộng.

Việc bẫy và giết chim muông bị cấm, một chức quan được đặt ra để giữ trách nhiệm đảm bảo thi hành những mệnh lệnh trên. Vị Tướng quân này đặc biệt chú ý đến loài chó, vì vậy ông được đặt một biệt danh khác không mấy thiện cảm là Inu-Kubō | Khuyển công phương 犬公方 (Inu 犬: chó, Kubo 公方: một phong hiệu chính thức của Shogun).

Ông cho lập ba trại chăm sóc lớn dành cho chó ở thành phố Edo; có người truyền rằng chỉ sau một năm mở cửa, mỗi trại chăm nuôi đã có đến một trăm ngàn con chó. Con trai của Tsunayoshi và là người kế vị ông, Tokugawa Ienobu, ngay khi lên nắm quyền vào năm 1709 đã cho huỷ bỏ các mệnh lệnh trên.

Người kế vị sau nữa là Tokugawa Ietsugu, cháu họ của Tsunayoshi, tiếp tục huỷ bỏ các lệnh bảo hộ động vật. Người ta lại dùng chó làm thực phẩm, dù việc này không xảy ra thường xuyên và không trở thành tục lệ phổ biến.

Động thái bảo tồn và chuẩn hoá giống chó Nhật Bản

Vào khoảng thời gian ngay sau khi Nhật Bản mở cửa với thế giới phương Tây năm 1868, khái niệm quyền lợi động vật (animal welfare) đã cắm rễ sâu tại Nhật Bản. Tàn dư của việc ăn thịt chó gần như biến mất hoàn toàn. Trong suốt giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, tất cả những giống chó (mới) đều được nhập từ nước ngoài, nhất là châu Âu.

Ở khu vực thành thị, quá trình lai tạo giữa giống Nhật và giống ngoại quốc diễn ra nhanh chóng; còn ở khu vực nông thôn trên đảo Hokkaido và Kyushu, những giống chó Nhật bản địa, chủ yếu dùng để đi săn, vẫn được giữ lại và bảo toàn nguyên vẹn về mặt di truyền.

Nửa sau thập niên 1920, trong lúc thị hiếu và tự hào dân tộc (của người Nhật) về những nét văn hoá Nhật Bản đang dâng cao, phong trào bảo tồn các giống chó Nhật Bản bắt đầu khởi sắc. Câu chuyện về chú chó Akita trung thành tên Hachiko trở nên cực kỳ phổ biến vào thời gian đó và đã thúc đẩy mạnh mẽ các động thái bảo tồn.

Văn bộ tỉnh (cơ quan tương đương cấp Bộ) khi đó lần lượt chính thức công nhận nhiều giống chó Nhật là “Tennen kinenbutsu | Thiên nhiên kỷ niệm vật” 天然記念物 của Nhật Bản (Giống loài được bảo vệ - Protected Species): giống chó Akita được công nhận năm 1931, giống Kishu và Kai năm 1934, giống Shiba năm 1936, giống Shikoku và Hokkaido năm 1937. Hiệp hội bảo tồn cho từng giống chó được thành lập và xây dựng nhiều kế hoạch chuẩn hoá giống.

Phong trào bảo vệ và bảo tồn chó Nhật khởi phát trong thời điểm đó đã bị giáng một đòn nặng nề khi Thế chiến thứ hai nổ ra với nhiều hậu quả để lại, trong đó có nạn đói trầm trọng trên toàn đất nước. Tuy nhiên, sau khi chiến tranh qua đi, nhờ những cố gắng cật lực không ngừng nghỉ để khôi phục, duy trì và bảo tồn, cộng đồng bảo tồn chó Nhật Bản đã giữ cho những giống chó bản địa sống sót và phát triển rộng rãi.

Một giải pháp được áp dụng trong thời kỳ khó khăn lúc bấy giờ là truy tìm những con chó giống bản địa được thợ săn sống sâu trong rừng núi nuôi làm thú đi săn nhằm phục vụ cho công tác khôi phục giống.

Ngoài 6 giống chó Nhật (Akita, Kishu, Kai, Shiba, Shikoku, Hokkaido) kể trên, còn nhiều giống chó khác cần được liệt kê ra ở đây. Đầu tiên là Chin, một giống chó phát triển ở Nhật Bản trong suốt thời kỳ Edo. Chin được đưa từ Trung Quốc đến Nhật Bản nhiều thế kỷ trước với hình thái khác biệt hoàn toàn với các giống chó Nhật khác, do đó quá trình phát triển của chúng dường như không xảy ra sự trao đổi gen với chó Nhật bản địa.

Thứ hai là giống chó Lưu Cầu, được đặt tên theo chuỗi đảo nằm ở vùng cận nhiệt đới phía tây nam đảo Kyushu. Chó Lưu Cầu là một giống bản địa của Nhật với con đường phát triển riêng, được tìm thấy ở vùng Yanbaru phía bắc huyện Uchinaa (Okinawa) và trên đảo Ishigachi.

Giống này được chính quyền huyện Uchinaa công nhận là Giống loài được bảo vệ (Protected Species) năm 1995. Ngoài ra, còn có giống chó Mikawa của huyện Tokushima (và huyện Aichi) và giống chó Satsuma của huyện Kagoshima, trong đó giống Satsuma từng được cho là đã tuyệt chủng. Cả hai giống này đều có những phong trào bảo tồn riêng do những người yêu mến và có thú chơi lập nên.

Bằng chứng di truyền về quá trình di chuyển của chó đến Nhật Bản

Quá trình di cư của chó đã diễn ra cùng với quá trình di cư của loài người trong suốt hàng ngàn năm qua. Nghiên cứu về thành phần di truyền của những quần thể chó khác nhau cho phép chúng ta xây dựng cây tiến hoá và những tuyến đường di cư của chó, đồng thời dự đoán cách đối xử của cư dân sống cùng quần thể chó đó.

Sự khác biệt di truyền giữa hai quần thể chó càng lớn thì thời điểm phân ly của chúng theo giả định sẽ xảy ra càng sớm. Những năm gần đây, nhiều nghiên cứu về quan hệ giữa các quần thể chó tại Nhật Bản và khu vực Đông Á đã được thực hiện, tập trung vào tần suất của các gen quy định sự đa hình protein trong máu (blood protein polymorphisms).

Nhóm nghiên cứu tại Đại học Gifu và Đại học Azabu tiến hành thu nhận mẫu máu từ chó Nhật bản địa và những cá thể chó khác tại nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ ở Đông Á như Đài Loan, Hàn Quốc, Mông Cổ, Indonesia và cả tại châu Âu, tổng cộng năm ngàn cá thể. Kết quả được giáo sư Tanabe Yuichi tại Đại học Gifu và cộng sự công bố vào năm 1991, 1996 cho thấy cấu trúc di truyền của các giống chó Nhật Bản và châu Âu là khác nhau.

Họ cũng chia các giống chó Nhật thành từng nhóm nhỏ hơn:

- Nhóm “A gồm các giống Hokkaido, giống Lưu Cầu, giống chó đặc hữu của đảo Iriumuti (nam bộ huyện Uchinaa) và giống chó đặc hữu của đảo Yakushima (gần bờ biển phía nam đảo Kyushu);

- Nhóm “B gồm giống San’in Shiba, giống chó đặc hữu của đảo Tsushima, nhóm này được xếp chung với hai giống chó Jindo, Chejudo của Hàn Quốc và giống chó đặc hữu ở bắc đảo Sakhalin (Nga);

- Nhóm “C gồm giống Akita, Kai, Shiba (trừ San’in Shiba), Kishu, Mikawa, Shikoku và Satsuma. Các giống chó thuộc nhóm A ít bị ảnh hưởng di truyền bởi quần thể chó thời kỳ sau (được đưa đến trung bộ Nhật Bản thông qua bán đảo Triều Tiên vào hai thời kỳ Yayoi và Kofun (300 TCN-650 SCN)), vẫn giữ được kết cấu di truyền của quần thể chó từ thời Jomon trước đó.

Nhóm B bị ảnh hưởng bởi quần thể chó thời kỳ sau mạnh nhất. Nhóm C có chịu sự ảnh hưởng, đồng thời trải qua quá trình lai tạo đáng kể với quần thể chó thời kỳ sau.

Kết quả trên đây cho phép suy ra những điều sau đây về nguồn gốc của chó Nhật và lịch sử phát triển của chúng. Ở thời kỳ Jomon, những con chó đầu tiên di chuyển đến quần đảo Nhật Bản từ khu vực phía nam châu Á thông qua quần đảo Lưu Cầu rồi phân tán đi khắp Nhật Bản.

Sau đó, trong thời kỳ Yayoi và Kofun, một quần thể chó khác được đưa đến thông qua bán đảo Triều Tiên và hoà huyết với quần thể chó trước đó, tạo ra những con chó được xem là tổ tiên của phần lớn các giống chó Nhật Bản còn tồn tại đến ngày nay. Riêng đảo Hokkaido và quần đảo Lưu Cầu (đặc biệt là nam bộ quần đảo) là những vùng đất xa xôi bị biển khơi ngăn cách với phần còn lại của Nhật Bản nên sự hoà huyết với quần thể chó thời kỳ sau gần như không xảy ra.

Vì vậy, tổ tiên của những giống chó bản địa tại hai khu vực này vẫn giữ được nguyên vẹn cấu trúc di truyền của quần thể chó thời kỳ trước. Tuy nhiên, mặc dù cấu trúc di truyền của hai giống Hokkaido và Lưu Cầu là tương đồng, giữa chúng vẫn có một số điểm dị biệt.

Điều này làm nảy ra khả năng sau đây: một nhóm chó ban đầu có cùng một vốn gen đã di chuyển vào quần đảo Nhật Bản qua nhiều con đường khác nhau, từ phía bắc và từ phía nam; ở phía bắc, một nhóm chó khác đến sau và đóng góp những tập hợp gen dị biệt vào cấu trúc di truyền của quần thể chó tại đây.

Năm 1999, nhóm nghiên cứu do giáo sư Ishiguro Naotaka thuộc Đại học Nông nghiệp và Thú y Obihiro dẫn đầu đã phân tích trình tự base của DNA D-loop trong ty thể thu nhận trong xương chó cổ khai quật từ nhiều di chỉ khảo cổ thuộc thời kỳ Jomon và Yayoi. Kết quả cho thấy có một kiểu DNA phổ biến từ cho khu vực từ Hokkaido đến đông bộ Nhật Bản và một kiểu khác phổ biến ở chó thuộc khu vực đông bộ, trung bộ và tây bộ Nhật Bản.

Năm 2001, nhóm nghiên cứu do giáo sư Ha Ji-hong thuộc Đại học quốc tế Kyungpook và giáo sư Tanabe Yuichi thuộc Đại học Gifu dẫn đầu đã tiến hành phân tích so sánh các kiểu DNA microsatellite giữa chó bản địa Nhật Bản, chó bản địa Hàn Quốc, chó bản địa Trung Quốc và chó Eskimo. Kết quả nghiên cứu cho thấy kiểu DNA của chó bản địa Nhật Bản phức tạp hơn so với chó bản địa Hàn Quốc.

Những nghiên cứu trên đã góp phần làm sáng tỏ một điều: quá trình di chuyển của tổ tiên các giống chó bản địa Nhật hiện nay diễn ra theo nhiều đợt, thông qua nhiều con đường nhỏ hơn.

---------------------------

Chú thích:

(1): Ken | Huyện 県: đơn vị hành chính tại Nhật Bản, tương đương cấp tỉnh tại Việt Nam

(2): Stop [tạm dịch là khoảng hụt trán]: khoảng hụt xuống ở giữa hai mắt, nơi trán và mũi giao nhau. Khoảng hụt càng rộng thì trán càng dô, khoảng hụt càng hẹp thì trán càng phẳng

Danh sách một số tên riêng:

Aichi | Ái Trí 愛知

Akita | Thu điền 秋田

Ankan | An Nhàn 安閑

Azabu |Ma Bố 麻布

Chejudo | Tế Châu Đạo 濟州道

Chin | Trung 狆

Edo | Giang Hộ 江戸

Ehime | Ái Viên 愛媛

Gifu | Kỳ Phụ 岐阜

Hachiko ハチ公

Ha Ji-hong | 하지홍

Heian | Bình An 平安

Hokkaido | Bắc Hải Đạo 北海道

Honshu | Bản Châu 本州

Kyushu | Cửu Châu 九州

Inukai-be | Khuyển tự bộ 犬飼部

Inu-Kubō | Khuyển công phương 犬公方

Iriumuti | Tây Biểu 西表 (Iriomote)

Ishigachi | Thạch Viên 石垣 (Ishigaki)

Jindo | Trân Đảo 珍島

Jomon | Thằng Văn 縄文

Kagoshima | Lộc Nhi Đảo 鹿児島

Kai | Giáp Phỉ 甲斐

Kamakura | Liên Thương 鎌倉

Kamikuroiwa | Thượng Hắc Nham 上黒岩

Kanagawa | Thần Nại Xuyên 神奈川

Kishu | Kỷ Châu 紀州

Kofun | Cổ Phần 古墳

Kyungpook | Khánh Bắc 慶北

Mikawa | Tam Hà 三河

Nihon Shoki | Nhật Bản thư kỷ” 日本書紀

Obihiro | Đái Quảng 帯広

Oita | Đại Phân 大分

Saga | Tá Hạ 佐賀

Satsuma | Tát Ma 薩摩

Shiba | Sài 柴

Shikoku | Tứ Quốc 四国

Shogun | Tướng quân 将軍

Shōruiawareminorei | Sinh loại liên mẫn chi lệnh 生類憐れみの令/生類憐憫之令

Tenmu | Thiên Vũ 天武

Tennen kinenbutsu | Thiên nhiên kỷ niệm vật 天然記念物

Tochigi | Lệ Mộc 栃木

Tokugawa Ienobu | Đức Xuyên Gia Tuyên 徳川 家宣

Tokugawa Ietsugu | Đức Xuyên Gia Tế 徳川 家継

Tokugawa Tsunayoshi | Đức Xuyên Cương Cát 徳川綱吉

Tokushima | Đức Đảo 徳島

Tokyo | Đông Kinh 東京

Tsushima | Đối Mã 対馬

Uchinaa | Xung Thằng 沖縄 (Okinawa)

Ukiyoe | phù thế hội 浮世絵

Yakushima | Ốc Cửu Đảo 屋久島

Yanbaru | Sơn Nguyên 山原

Yayoi | Di Sinh 弥生

Yokosuka | Hoành Tu Hạ 横須賀

Yoshinogari | Cát Dã Lý 吉野ヶ里

--------------------------

Tanabe Yuichi – Giáo sư danh dự, Đại học Gifu

Dịch bởi: Trần Văn Hải Nam

 

5 ( 1 bình chọn )

Khám Phá Lịch Sử

https://khamphalichsu.com
Những quan điểm, góc nhìn về lịch sử qua các bài viết tìm hiểu, nghiên cứu, khám phá lịch sử Việt Nam, lịch sử thế giới, văn hóa Việt Nam, văn hóa thế giới

Bài viết mới

Xem thêm