Lịch sử thế giới

Nguyên nhân xung đột Israel và Palestine: Quýt làm, cam chịu

Trích từ cuốn sách "Untold History of United States" nói về lịch sử xung đột Israel và Palestine. Đoạn trích này giải thích rõ hơn về vấn đề, nguyên nhân cuộc chiến giữa israel và palestine kể từ năm 1948 - năm thành lập Israel.
14/05/2021 12h:39 1.93K
Nguyên nhân xung đột Israel và Palestine: Quýt làm, cam chịu
Nguyên nhân xung đột Israel và Palestine: Quýt làm, cam chịu

1948 cũng là năm mà vấn đề Israel - Palestine căng thẳng theo cách sẽ gây khó khăn cho chính sách của Hoa Kỳ trong hơn 6 thập niên tiếp theo. Tình hình phức tạp bởi sự thật rằng bất chấp những nỗ lực khiên cưỡng của các nhà hoạch định chính sách Hoa Kỳ, những vấn đề Trung Đông không bao giờ ăn khớp với mô hình Chiến Tranh Lạnh.

Các nhà hoạch định chính sách Hoa Kỳ đã cố điều hướng một số nhóm cử tri bằng những lợi ích cơ bản khác nhau: các nhà lãnh đạo người Ả Rập phản động, những người kiểm soát lượng lớn nguồn dầu cũng như các căn cứ và tuyến đường chiến lược trong khu vực; số đông người Ả Rập theo chủ nghĩa dân tộc, thường sống trong những điều kiện nghèo nàn; các nạn nhân người Palestine từ chính sách của Israel.

Các nạn nhân người Do Thái trong nạn diệt chủng Holocaust, những người đã không còn hy vọng đối với quê nhà; các cử tri Do Thái và sau này là những người bảo thủ tại Hoa Kỳ, bao gồm người theo phái Phúc Âm Cơ Đốc giáo, kiên quyết ủng hộ các hành động của Israel; thế giới Hồi giáo thống nhất phản đối chính sách của Israel và đôi khi là cả sự tồn tại của một quốc gia Do Thái ở giữa họ. Vấn đề từng phát sinh khi khu vực này nằm dưới sự kiểm soát của Anh.

Năm 1915, bằng cách sử dụng chính sách chia để trị thường dùng của mình, người Anh hứa với người Ả Rập về một quốc gia độc lập nhằm kích động một cuộc nổi loạn chống lại Đế chế Ottoman. Sau đó, vào năm 1917, Arthur Balfour, ngoại trưởng phụ trách các vấn đề nước ngoài của Anh, hứa một cách trịnh trọng sẽ ủng hộ cho quê hương Do Thái tại Palestine, nơi là nhà của 750.000 người Ả Rập và 65.000 người Do Thái. Arthur Koestler miêu tả nơi này giống như một quốc gia, ông ta hứa hẹn với một quốc gia khác về đất đai của một quốc gia thứ ba.101

Tại Versailles, năm 1919, các đại biểu thông qua Tuyên bố Balfour, trao cho Anh quyền ủy trị đối với Palestine. Năm 1922, Quốc hội Hoa Kỳ cũng thông qua tuyên bố. Trong những năm đầu thế kỷ, người Do Thái Châu Âu mong muốn tái định cư thường chọn Hoa Kỳ, không phải Palestine, nơi chỉ có 3% người Do Thái Châu Âu di cư đến trước những năm 1930. 68% tới Hoa Kỳ.

Nhưng sự di cư đến Hoa Kỳ của người Do Thái đã bị giảm xuống rõ ràng do đạo các đạo luật hạn chế nhập cư trong giai đoạn 1921-1924. Vào những năm 1930, người Do Thái chạy trốn khỏi sự bức hại của Đức Quốc Xã làm gia tăng đáng kể số người di cư Do Thái đến Palestine, khiến cư dân Ả Rập phẫn nộ. Các vụ tấn công của Ả Rập nhắm vào những người định cư Do Thái tăng lên khi dân số Do Thái đạt nửa triệu người, hay 30% tổng dân số. Người Do Thái ăn miếng trả miếng.

Roosevelt dao động về sự ủng hộ của mình đối với đất nước Do Thái. Không muốn kém thân thiện với người Saudi, những người mà Hoa Kỳ đang săn đón vì dầu mỏ của họ, và muốn đạt được chỗ đứng tại Trung Đông để cạnh tranh với Anh, ông đã thực hiện những cam kết mâu thuẫn với cả người Do Thái lẫn người Ả Rập. Trên đường trở về từ Yalta, ông ta gặp quốc vương Saudi Ibn Saud và bất ngờ trước sự phản đối sâu sắc của vị quốc vương đối với đất nước Do Thái.

Saud yêu cầu ông ta thành lập một đất nước Do Thái ở Đức: “Những sửa chữa nên do kẻ phạm tội thực hiện, chứ không phải là người ngoài cuộc vô tội.” Roosevelt đi ngược lại với những cam kết trước đó của mình và hứa với Saud rằng ông ta sẽ “không làm gì để giúp người Do Thái chống lại người Ả Rập và… không gây bất lợi cho người dân Ả Rập.” 102 Ông ta cũng giúp đỡ không mấy nhiệt tình cho những người Do Thái trốn chạy khỏi sự khủng bố của Đức Quốc Xã.

Roosevelt đã bị Bộ ngoại giao, nơi vốn không quan tâm đến tình cảnh bi thảm của các nạn nhân Do Thái, ngăn cản, thậm chí cả sau nửa đầu năm 1942, khi tin tức về các chính sách diệt chủng của Đức Quốc Xã bắt đầu đưa về. Từ năm 1933 đến năm 1942, Hoa Kỳ chỉ nhận vào 160.000 người Do Thái Châu Âu, nâng số dân Do Thái tăng từ 3,6% lên 3,7% tổng dân số Hoa Kỳ.103

Khi chiến tranh kết thúc, Anh vẫn thống trị khu vực, với 200.000 lính tại căn cứ Kênh đào Suez, các căn cứ không quân tại Iraq cũng như Sudan và các căn cứ không quân tại Lydda ở Palestine, các căn cứ hải quân ở Bahrain và Aden cùng sự hiện diện hải quân ở Haifa, và quyền chỉ huy Liên đoàn Ả Rập 8.000 người hùng mạnh ở Transjordan. Quyết không làm gì gây thù địch thêm với người Ả Rập và đe dọa đến các lợi ích của nước Anh, trong đó có dầu mỏ từ Iraq và Iran, họ tiếp tục chính sách 1939 của Neville Chamberlain về việc hạn chế và sau đó là tạm thời ngừng nhập cư Do Thái.

Tuy nhiên, điều đó đã không cản được dòng người sống sót sau Holocaust và những người di cư Do Thái khác đổ về Palestine “trái phép” sau chiến tranh. Khi Anh đàn áp, kết án hơn 2000 người Do Thái, thì tổ chức khủng bố Do Thái Irgun đã trả đũa bằng việc đánh bom văn phòng thư ký cùng các trụ sở quân đội của Anh tại khách sạn King David ở Jerusalem, khiến 91 người thiệt mạng.

Xem thêm: Tóm tắt lịch sử, nguyên nhân cuộc chiến Israel và Palestine

Giữa năm 1946, Truman quyết định quay lại với một kế hoạch sẽ cho phép 100.000 người tị nạn Châu Âu di cư đến Palestine, nhưng thay vì tạo ra một nhà nước Do Thái riêng, kế hoạch này lại lập lên một quốc gia với những tỉnh lị Ả Rập và Do Thái riêng biệt. Các lãnh đạo người Do Thái đã phản đối gay gắt kế hoạch. Truman dành cả giờ ăn trưa của Quốc hội để thảo luận về vấn đề Palestine. Acheson và Forrestal thúc giục Truman tiếp tục kế hoạch. Henry Wallace phản đối.

Ghi chép nhật ký của Wallace làm sáng tỏ về cuộc thảo luận và thái độ của Truman: “Tổng thống Truman thể hiện bản thân ông ta rất ‘phiền lòng’ với những người Do Thái. Ông ta nói rằng ‘Chúa Jesus cũng không thể làm hài lòng họ khi ngài còn trên đời, vậy làm sao người ta có thể trông chờ rằng tôi sẽ gặp may đây?’

Truman nói ông ta không có ích gì cho họ và không quan tâm chuyện gì xảy ra với họ.” Wallace đã nhắc nhở ông ta,* “Ngài phải nhớ rằng họ rất dễ khích động bởi gần như tất cả những người Do Thái ở đất nước này đều có người thân tại Châu Âu và họ biết rằng khoảng 5 trong số 6 triệu người Do Thái đã bị sát hại và rằng không có dân tộc nào khác từng trải qua điều này.”

Wallace viết, “Trước đây Jim Forrestal từng quả quyết nói rằng người Ba Lan chịu đựng nhiều hơn người Do Thái. Forrestal đặt ra câu hỏi về dầu tại Ả Rập Saudi và nói nếu một cuộc chiến khác nổ ra thì chúng tôi sẽ cần dầu của Ả Rập Saudi. Tổng thống Truman nói ông ta muốn giải quyết vấn đề này không phải trên quan điểm kiếm được dầu mà là trên quan điểm điều gì đúng đắn.”*104

Vào đầu năm 1947, cùng với thông báo cắt giảm ở Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ, Anh chấm dứt quyền ủy trị của mình đối với Palestine và chuyển vấn đề sang cho Liên hợp quốc mà không đề xuất cách giải quyết. Tháng 5, Xô-viết khiến các quan chức Hoa Kỳ bất ngờ khi Thứ trưởng Ngoại giao Andrei Gromyko nêu quan điểm của Xô-viết trước Đại hội đồng Liên hợp quốc.

Viện dẫn những nỗi kinh hoàng đối với cuộc diệt chủng Holocaust , sự thật rằng cả người Ả Rập và người Do Thái đều từng có những yêu sách lịch sử đối với vùng đất, và những gia tăng căng thẳng giữa hai bên do sự lạm quyền của Anh gây ra, Gromyko nói, Xô-viết muốn có một nhà nước liên bang hoặc lưỡng bang. Tuy nhiên, nếu điều đó là không thể, họ sẽ ủng hộ giải pháp hai nhà nước mà các chiến binh Do Thái rất đồng tình và người Ả Rập kiên quyết phản đối.

Cuối năm 1947, Liên hợp quốc, bất chấp sự phản đối gay gắt của Ả Rập, công nhận chia Palestine thành hai quốc gia độc lập. Xô-viết ủng hộ giải pháp này; người Anh và người Ả Rập phản đối; còn Hoa Kỳ mập mờ nước đôi nhưng cuối cùng cũng lên thuyền. Bạo lực Ả Rập bùng lên ở Palestine ngay khi cuộc bỏ phiếu chia vùng được thông báo.

Ngày 14/5/1948, nhà nước Israel tuyên bố thành lập. Mười một phút sau, Hoa Kỳ công nhận ngoại giao. Vài giờ sau, các nước Ả Rập tiến hành một cuộc chiến tranh toàn diện, hi vọng loại trừ quốc gia mới trước khi nó hoàn thiện. Dựa nhiều vào các vũ khí của Xô-viết và Czech, những người Do Thái áp đảo vượt trội đã đánh bại người Ả Rập trong cuộc chiến tranh sáu tháng đầu tiên.

Xem thêm: Vì sao Liên Xô giúp thành lập nhà nước Israel nhưng lại là kẻ thù của họ?

Khi công nhận Israel, Truman đã không nghe theo lời khuyên của Marshall, Forrestal và Lovett, những người e sợ một sự rạn nứt với những người bạn sản xuất dầu mỏ của Hoa Kỳ trong khu vực. Họ cũng e sợ việc Hoa Kỳ và Anh đánh mất quyền sử dụng các căn cứ Trung Đông để tấn công Liên Xô nếu chiến tranh nổ ra. Trong cuộc gặp tại Phòng Bầu Dục ngày 12/5, Clifford nêu ra tình thế đạo đức và chiến lược đối với sự công nhận.

Ông ta hình dung Israel như một đồng minh vô giá của Hoa Kỳ trong một khu vực bất ổn. Marshall kịch liệt phản đối những lý lẽ của Clifford và khẳng định rằng chúng dựa trên những cân nhắc chính trị trong nước: Hi vọng giành được lá phiếu Do Thái của Truman. Marshall thẳng thừng nói với Truman rằng nếu Truman công nhận Israel, thì mình sẽ không bầu cho ông ta trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1948.

Trong lý lẽ của Marshall có một sự đúng đắn nhất định. Truman chắc chắn nhận thức được những dính líu chính trị trong nước ở các hành động của mình.* “Bằng tất cả kinh nghiệm chính trị của mình,”* ông nói với một người bạn, *“Tôi nhớ rằng chưa bao giờ lá phiếu của Ả Rập xoay chuyển được một cuộc bầu cử ngang phiếu .”*105 Và Truman đã tham gia một cuộc bầu cử ngang phiếu vào năm 1948, một cuộc bầu cử mà trong đó mọi lá phiếu đều được tính.

Tuy nhiên Truman, mặc dù thường xuyên có những bình luận chống lại người Semit và khinh miệt các nhà hoạt động xã hội Do Thái, cũng bị mối quan tâm chân thành dành cho nỗi khốn khổ của người Do Thái trong nạn diệt chủng Holocaust thôi thúc.

Marshall đã tán thành ủy nhiệm đối với Palestine dưới sự bảo trợ của Liên hợp quốc, đièu sẽ giữ cho người Do Thái và người Ả Rập ở trong cùng một đất nước. Ông ta và những người khác cũng lo lắng về quan hệ khăng khít giữa Israel và Liên Xô, quốc gia có sự công nhận hợp pháp đối với Israel ngay sau Hoa Kỳ vào ngày 15/5.

Tình báo Hoa Kỳ báo cáo về ảnh hưởng của Xô-viết đối với Irgun và Stern Gang cũng như lưu ý về dòng người Do Thái theo Cộng sản tràn vào khu vực. Hoa Kỳ và Anh, cố không đối đầu hoàn toàn với người Ả Rập, đưa ra lệnh cấm vận chuyển vũ khí cho cả hai bên và Hoa Kỳ đã khéo léo dẫn dắt để ngăn chặn những quyết định của Liên hợp quốc lên án cuộc xâm lược của Ả Rập.

Các nhà hoạch định chính sách Hoa Kỳ, lo ngại sự can thiệp quân sự của Xô-viết dù đơn phương hay như một phần của lực lượng gìn giữ hòa bình quốc tế, đều thúc đẩy cho một giải pháp nhanh chóng.

Bất chấp những đe dọa của quốc vương Ibn Saud về việc hủy bỏ quyền khai thác đối với Aramco, nơi mà Texaco và chi nhánh Standard Oil ở California được thành lập tại Ả Rập Saudi, Hoa Kỳ không quá lo ngại về sự trả đũa của Ả Rập. Đầu tháng 7, báo cáo của Bộ Ngoại cho thấy rằng, ngoại trừ Iran, Trung Đông chỉ cung cấp 6% trong nguồn dầu phương Tây và có thể thích ứng với tổn thất được *“mà không gây khó khăn đáng kể đối với bất kỳ nhóm khách hàng nào.”*106

Dù Israel đã ký những thỏa thuận ngừng bắn với Ai Cập, Lebanon, Jordan và Syria năm 1949, nhưng nỗi cay đắng của Ả Rập trước sự thành lập nhà nước Do Thái tại Trung Đông vẫn dai dẳng cho đến ngày nay và những vấn đề bắt nguồn từ cuộc chiến năm 1948 cũng chưa được giải quyết.

Tình hình trở lên căng thẳng vì vấn đề nhập cư ồ ạt, khi nhiều người Ả Rập trốn khỏi nơi sẽ trở thành Israel-một số nghe theo lời khuyên của các nhà lãnh đạo Ả Rập và một số bị người Do Thái đuổi đi. Vấn đề nhập cư, sau hơn 60 năm, vẫn là nguồn cơn không dứt của căng thẳng trong khu vực.

0 ( 0 bình chọn )

Khám Phá Lịch Sử

https://khamphalichsu.com
Những quan điểm, góc nhìn về lịch sử qua các bài viết tìm hiểu, nghiên cứu, khám phá lịch sử Việt Nam, lịch sử thế giới, văn hóa Việt Nam, văn hóa thế giới

Xem nhiều

Bài viết mới