Trang chủ Nhân vật lịch sử Nguyễn Thị Duệ - Hình ảnh của một nữ giáo viên dưới thời phong kiến

Nguyễn Thị Duệ - Hình ảnh của một nữ giáo viên dưới thời phong kiến

Theo sách Đại Nam nhất thống chí viết về Nguyễn Thị Duệ thì "bà thông minh hơn người, học rộng hay chữ, hơn 10 tuổi giả trai, theo thầy học tập". Các tấm gương đỗ đạt cao cũng kích thích hứng thú học tập của bà.

Nguyễn Thị Duệ (1574-1654) còn có tên Ngọc Toàn, hiệu là Diệu Huyền, bà là nữ nhân tuyệt sắc lại rất thông minh trong một gia đình có truyền thống hiếu học tại làng Kiệt Đặc, nay thuộc xã Văn An, Chí Linh, Hải Dương. Quê bà vốn là đất học, trước đó đã có nhiều người đỗ đạt cao, tiếng tăm lừng lẫy như các Trạng nguyên Vũ Dương, Trần Sung Dĩnh thời Hồng Đức, Lê Nại thời Đoan Khánh đầu TK XVI.

Nguyễn Thị Duệ - Hình ảnh của một nữ giáo viên dưới thời phong kiến
Nguyễn Thị Duệ - Hình ảnh của một nữ giáo viên dưới thời phong kiến

Thuở nhỏ bà tỏ ra rất sáng dạ, lên 10 tuổi đã biết viết văn. Nổi tiếng là vừa đẹp người lại đẹp nết, khiến nhiều gia đình quyền quý đến xin cưới hỏi nhưng gia đình bà đều không ưng thuận. Tương truyền, có cậu ấm trong vùng đến ghẹo, bà đã đọc châm 2 câu thơ:

Xá chi vàng đá hỗn hào

Thoảng đem cánh phượng bay cao thạch thành

Cậu Ấm đó nghe xong thì lẳng lặng bỏ ra về.

Năm Quang Hưng thứ 15 - Mạc Bảo Định nguyên niên 1592, triều đình Lê - Trịnh thu phục Thăng Long, quân Mạc rút về phía Đông thuộc trấn Hải Dương. Đầu năm Quang Hưng thứ 16, quân Lê - Trịnh tấn công triệt hạ vùng Hải Dương, trọng tâm là Nam Sách, Chí Linh, nhà Mạc thất thủ phải chạy khỏi Hải Dương, chạy lên Cao Bằng, lập căn cứ tồn tại ở đây trên nửa thế kỷ.

Làm vợ vua Mạc

Tại Cao Bằng, nhà Mạc mở khoa thi Hội, sĩ tử ứng thí khá đông. Nhưng, luật lệ đương thời không cho phép con gái được học hành thi cử vì vậy Nguyễn Thị Duệ cải trang giả trai để dự khoa thi Tiến sĩ năm Giáp Ngọ (1594) tại Cao Bằng, năm ấy bà 20 tuổi mang tên Nguyễn Du, vượt vào trường thi và đã đỗ đầu, còn thầy dạy đỗ thứ hai. Ngợi khen người học trò tài năng, người thầy đã thốt lên: "Màu xanh từ màu lam mà ra, thế mà lại đẹp hơn màu lam".

Trong buổi triều đình ban yến, vua Mạc thấy thí sinh đỗ đầu kỳ thi Hội ấy có dáng vẻ thanh tú, môi son, mắt phượng sáng ngời bèn dò hỏi. Khi biết được sự thực vua Mạc không quở trách mà còn trọng dụng bà, cho bà dạy các phi tần và một thời gian sau thì lấy bà làm vợ, đặt biệt danh là Tinh phi (Sao Sa). Vì thế dân gian còn gọi là bà chúa Sao.

Làm quan Lê - Trịnh

Năm 1625, quân Lê - Trịnh tiến lên Cao Bằng diệt nhà Mạc. Bà vào rừng ẩn náu, bị quân lính của tướng tiên phong Đinh Văn Tả bắt được. Bà cầm gươm nói: "Các ngươi bắt được ta thì nên để ta đến gặp Chúa của các ngươi, nếu vô lễ thì với lưỡi gươm này ta sẽ tự liệu". Nghe thế họ bèn giải bà về kinh đô Thăng Long. Vua Lê - Chúa Trịnh biết bà là người có tài lại có sắc, liền trọng dụng, cho bà trông coi các việc tại phủ Chúa.

Tại hậu cung vương phủ thời ấy có lục viện gồm: Thượng mục viện (dạy đi đứng); Thượng dung viện (dạy trang điểm); Thượng hòa viện (dạy tính nết); Thượng trinh viện (dạy dáng điệu); Thượng văn viện (dạy học chữ) và Thượng đức viện (dạy lễ nghi) thì Dương Vương Trịnh Tạc đã tiến cử bà Nguyễn Thị Duệ làm Lễ sư, chuyên dạy các phi tần và phong là Chánh Vương Phủ, Nghi ái Quan.

"Một tấm gương sáng chiếu suốt ba vua" (Lễ sư thông tuệ nhất kính chiếu tam vương). Cảm phục tài đức của nhau, Nghi ái Quan Nguyễn Thị Duệ và Hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc (vợ vua Lê Thần Tông) trở thành đôi bạn tri âm tri kỷ. Hằng tháng, hai bà cùng đi lễ chùa, vãn cảnh. Qua những cuộc đàm đạo với các sư sãi và những bậc hiền tài, "Bà Chúa Sao sa" Nguyễn Thị Duệ nắm được tình hình đất nước và đời sống của dân chúng, từ đó có được những kế sách hay cố vấn cho triều điều ban bố những cải cách hợp lòng dân.

Tuy ngôi cao lộc hậu nhưng Nghi ái Quan Nguyễn Thị Duệ sống rất thanh đạm, luôn dành sự quan tâm đến việc thi cử, bồi dưỡng nhân tài. Để thúc đẩy phong trào học tập địa phương, cách một khoảng thời gian, bà cùng các bậc túc nho đến giảng dạy tại các khu vực ấn định rồi soạn đề, tổ chức thi. Bài thi được gửi đến cho bà chấm, kết quả được gửi trả lại địa phương. Cách làm này góp phần đáng kể trong việc nâng cao giáo dục tại các vùng xa kinh kỳ.

Phần lớn ở các kỳ thi Đình và thi Hội, bài vở đều qua tay bà chấm chọn. Mỗi tháng 2 kỳ, bà sai người làm cỗ, họp sĩ tử hàng huyện lại cho tập làm văn. Đề bài do bà ra rồi sai người từ kinh đô mang về. Bài làm xong giao cho Hội Tư Văn niêm phong lại đem nộp cho bà. Tự bà chấm bài, đúng hạn trả lại và cho đăng tên những người có bài và điểm lên Văn chỉ. Nhiều người trong số đó đã đỗ Đại khoa, riêng làng Kiệt Đặc quê hương bà đã có 3 người đỗ Tiến sĩ. Bà là người đầu tiên trong lịch sử giáo dục nước nhà, thực hiện dạy học từ xa mà sau 4 thế kỷ chúng ta mới kế thừa, phát huy.

Với mục đích khuyến học thành tài, trong số lộc điền dọc sông Kinh Thày, dân gian quen gọi là "Dải yếm bà Chúa Sao sa". Nghi án Quan Nguyễn Thị Duệ đã trích ra 10 mẫu để thưởng cho những tân Tiến sĩ của quê hương luân phiên cày cấy thu hoa lợi phục vụ việc học hành. Nhân dân rất cảm phục tài năng và đức độ, nên xưng tụng bà là "Nghiêu, Thuấn trong phái nữ, thần tiên ở trên đời".

Đặc biệt, trong kì thi tuyển Tiến sĩ khoa Tân Mùi, niên hiệu Đức Long thứ 3 (1631) ở Thăng Long, bà được triều đình Lê - Trịnh mời vào ngôi vị Ban Giám khảo và được hậu thế đúc tượng đồng tại hậu cung Văn Miếu Mao Điền (Hải Dương). Khi chấm bài , các giám khảo thấy có một quyển làm 4 mục rất tốt, nhưng lại bỏ qua không làm 8 mục. Chúa đọc cảm thấy rất tâm đắc nhưng vài chổ chưa hiểu nên hỏi bà. Bà liền giải nghĩa theo điển tích, nói ra hàm ý sâu xa, khiến Chúa và các quan phải khâm phục cả người làm lẫn người diễn giải. Bà còn bình:” Bài văn làm được 4 câu mà hay còn hơn làm hết 12 câu mà không hay, triều đình cần người thực tài chứ không cần kẻ nịnh bợ”. Thế là các quan cùng đồng ý chấm cho người làm bài đậu tiến sĩ khoa thi năm đó. Khi tra ra thì sĩ tử đó là Nguyễn Minh Triết, em họ của bà.

Cuộc sông cuối đời

Do tình hình đất nước bấy giờ rối ren nên bà đã xin từ quan về quê , vua Lê và chúa Trịnh không khuyên được bà nên đã cho bà về quê. Bà dựng am để có nơi đọc sách và bảo ban các sĩ tử trong làng. Chúa Trịnh Tạc ban lệnh chỉ: tiền đóng góp về binh lính, tô thuế ruộng công, thuế đò thuế chợ cùng các thứ thuế khác thu ở quê đều để làm bổng lộc cho bà. Từ đó về sau, suốt 20 năm dân làng Kiệt Đặc không chỉ được miễn trừ sưu thuế, phu phen, tạp dịch mà còn được cấp 100 quan tiền và 2 mẫu ruộng tốt là bổng lộc của bà.

Năm 2004, có tám vị đại khoa của Hải Dương là hiền tài của đất nước được đúc tượng đồng và khám thờ, trong đó có nữ tiến sĩ Nguyễn Thị Duệ. Bà được thờ cùng Khổng Tử tại hậu cung Văn Miếu Mao Điền( Hải Dương). Phía trong hậu cung của Văn Miếu thờ tổng thảy 9 bài vị. Chính giữa thờ Khổng Tử, lần lượt hai bên là Nguyễn Trãi, Chu Văn An, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phạm Sư Mạnh, Vũ Hữu, Tuệ Tĩnh và Nguyễn Thị Duệ.

Trương Thị Kim Dung

5 ( 1 bình chọn )

Khám Phá Lịch Sử

https://khamphalichsu.com
Những quan điểm, góc nhìn về lịch sử qua các bài viết tìm hiểu, nghiên cứu, khám phá lịch sử Việt Nam, lịch sử thế giới, văn hóa Việt Nam, văn hóa thế giới

Cùng chủ đề

Bài viết mới