Trang chủ Nhân vật lịch sử Tiểu sử Hoàn Nhan Trần Hòa Thượng (Bản dịch)

Tiểu sử Hoàn Nhan Trần Hòa Thượng (Bản dịch)

Hoàn Nhan Trần Hòa Thượng, tên thật là Hoàn Nhan Di, là một trong những danh tướng xuất sắc nhất thời mạt Kim. Ông sinh ra trong một gia đình kế thừa truyền thống quân sự, có anh là Gia Liệt, cũng làm tướng quân nhà Kim. 

Hoàn Nhan Di là một nhân vật lịch sử văn võ song toàn, không những dũng mãnh cầm binh mà còn thích đọc văn chương lịch sử, nhà một nhân tài hiếm có. Do vướng vào một vụ lôi thôi trong quân, vốn là việc hai tướng lĩnh Lý Thái Hòa và Cát Tuyên Ông đánh nhau, mà bị vướng vào cảnh hình ngục. Nguyên việc này là do Thái Hòa và Tuyên Ông đánh nhau, cả hai đem nhau ra kiện trước mặt Di. Di cho rằng Tuyên Ông làm bậy nên phạt roi. Tuyên Ông tính vốn hung hãn nên ôm hận về nhà nói với vợ, thề rằng chết rồi sẽ báo thù. Tuyên Ông chết, vợ đem việc này kiện lên với các cơ quan tư pháp. Di bị cho làm lạm quyền giết người để bị trói vào ngục ở 18 tháng. Trong ngục ông đọc sách, ngoài ngục người ta bàn mãi không xong. Kim Ai Tông hứa với anh Gia Liệt sẽ thả, nhưng Ngự Sử Đài khuyên nên không dám thả ngay. Tới khi Gia Liệt bệnh mất, Ai Tông cho thả Hoàn Nhan Di ra. Di thầm khắc cốt ghi tâm sẽ tận trung báo quốc.

Chiến thắng vĩ đại đầu tiên của Di là chiến thắng Đại Xương Nguyên. Đương thời Hoàn Nhan Hợp Đạt hỏi ai có thể làm quân tiên phong, Di bước ra nhận, tắm gội thay áo, mang áo giáp rồi lên ngựa không nhìn lại. Trận ấy Di dùng có 400 kỵ binh mà phá tan tới 8000 quân Mông Cổ, là thần tích chưa tướng Kim nào làm được, nếu không muốn nói là một trong những chiến thắng lưu danh thiên sử trong lịch sử đế chế Mông Cổ.

Hoàn Nhan Di quản Trung Hiếu Quân, biến một đạo quân ô hợp thành một đạo quân tinh nhuệ, ghi thêm chiến công ở trận Vệ Châu (1229) và Đảo Cốc Hồi (1230), cùng Hợp Đạt đánh bại cả danh tướng Tốc Bất Đài.

Di chết một cách hiên ngang, không chút sợ hãi. Ông nói lớn những câu bất hủ sau: "Ta là Trung Hiếu Quân Tổng Lĩnh Trần Hòa Thượng đây. Đại Xương Nguyên thắng là do ta, Vệ Châu thắng cũng do ta, Đảo Hồi Cốc thắng cũng do ta. Ta chết trong loạn quân, người người sẽ nói ta phụ quốc gia mình, hôm nay minh bạch chết, thiên hạ tất biết đến ta."

Sự dũng cảm gan trường của ông đã cảm hóa tướng Mông Cổ Hợp An, họ rải rượu tế ông, còn nói: "Hảo nam tử, ngày khác tái sinh, hãy để ta có hắn." Nếu ông không chết mà đầu quân cho Mông Cổ thì công danh ắt không thấp. Song như thế thì làm sao trở thành một nhân vật nghìn năm có một.

Bản dịch sau là bản dịch của Kim Sử và phần bi ký (bia đá khắc ghi công tích) của Hoàn Nhan Di trong sách Di San Tiên Sinh Văn Tập. Người sáng tác bài bi ký này là danh nhân Nguyên Hạo Vấn. Kim Sử đã chép lại gần như toàn bộ bản danh tác này. Dưới ngòi bút của Nguyên Hạo Vấn, hình ảnh của đấng nam nhi quân tử Hoàn Nhan Di lưu vào lòng người, không thua gì thiên truyện bi hùng của Hạng Võ trong sách Sử Ký của Tư Mã Thiên. Đoạn đầu dòng bi ký còn ghi câu nói lưu danh muôn thưở: "Trung Quốc hơn trăm năm, duy dưỡng được một Trần Hòa Thượng." (中國百餘年,唯養得一陳和尚耳).

Người viết đã hỏi ý kiến thầy cô dạy Hán cổ để cố gắng dịch chính xác phần bi ký. Đến nay phần Kim Sử đã xong, riêng phần bi ký còn chờ lĩnh hội ý kiến của tiền nhân để dịch cho chính xác. Ngoài 2 phần này ra còn phần chú giải nhỏ, dẫn Kim Sử Ai Tông bản kỷ và Đại Kim Quốc Chí để bổ sung thêm cho phần truyện có phần sơ sài này.

Mời các bạn xem bản dịch tiểu sử Hoàn Nhan Trần Hòa Thượng:

Kim Sử quyển 123: Hoàn Nhan Trần Hòa Thượng truyện (金史完顏陳和尚傳•卷123) và Di San Tiên Sinh Văn Tập quyển 27: Tặng Trấn Nam Vương Tiết Độ Sứ Lương Tá Bi (遺山先生文•卷第二十七 •贈鎮南軍節度使良佐碑)

Năm đầu Thiên Hưng, tháng sáu, ất hợi,..., còn nói: "Thần vì sứ sự đến Sóc Phương, có kẻ nói với thần rằng: "Trung Quốc hơn trăm năm, duy dưỡng được một Trần Hòa Thượng. Xin khen tặng như việc cũ, để khuyên cáo thiên hạ." Hoàng thượng nghe qua, chiếu tặng Trấn Nam Quân Tiết Độ Sứ.

Hoàn Nhan Trần Hòa Thượng, tên Di, tự Lương Tá, người đời gọi bằng tên riêng (tức Di), người Phong Châu, là một trong các cháu của Tiêu Vương. Cha là Khất Ca, năm Thái Hòa nam chinh (), có công được phong Đồng Tri Giai Châu Quân Sự, đến khi Tống khôi phục Giai Châu, Khất Ca tử chiến ở Gia Lăng Giang. Giữa năm Trinh Hựu (1214-1215), Trần Hòa Thượng tuổi hơn hai mươi, bị quân Bắc bắt đi, đại sư (tức đại tướng quân Mông) rất mến, đặt dưới trướng. Bấy giờ mẹ Trần Hòa Thượng lưu ở Phong Châu, theo anh An Bình Đô Úy Gia Liệt chăm nom rất cẩn thận. Trần Hòa Thượng ở phương bắc hơn một năm, rất mong thăm mẹ, xin về. Đại sư cho quân tốt giám sát Hòa Thượng đến Phong Châu, (Hòa Thượng) cùng Gia Liệt giết đi quân giám sát, cướp ngựa mang mẹ chạy trốn về phía Nam. Đại binh phát giác, hợp kỵ truy đuổi họ, (họ) theo đường khác thoát thân. Chẳng lâu sau mất ngựa, mẹ già không thể đi, lấy xe sừng nai chở, anh em cùng kéo, vượt qua phía Nam sông Hoàng Hà. Tuyên Tông thấy rất đặc biệt.

* Thái Hòa nam chinh: Ở đây chỉ Khai Hi bắc phạt (từ năm 1206-1208). Năm 1208 (Tống Gia Định năm đầu, Kim Thái Hòa năm thứ tám), chiến sự kết thúc.

Triều đinh phong quan cho An Bình, An Bình được thế tập làm Đô Thống, Trấn Nam ứng thi Hộ Vệ, trúng tuyển. Tuyên Tông biết tài của Trấn Nam, không lâu chuyển làm Phụng Ngự. An Binh làm Sư Phủ Sự, tấu cho Trấn nam đi theo, chiếu làm Đề Khống theo quân. An Bình kính trọng hiền sĩ, có phong thái một bậc hiền tướng, vời Vương Ác (tên tự là) Trọng Trạch người Thái Nguyên làm Kinh Lịch Quan, Trọng Trạch văn chương bàn luận như Lôi Uyên, Lý Hiến Năng, cho nên được vừa làm thầy vừa làm bạn. Trần Hòa Thương thiên tư thông minh, rất thích văn sử, tự ngày làm cấm vệ, đã có mục làm tú tài. Đến đây, (Ác) tặng "Hiếu Kinh", "Tiểu Học", "Luận Ngữ", "Xuân Thu Tả Thị Truyện", thông hiểu hết nghĩa của chúng. Trong quân không có chuyện gì, thì dưới cửa sổ lấy bút lông bò viết chữ nhỏ, như một sĩ nhân kham khổ, Trọng Trạch thích cái tư chất khả tiến, cho xem sách Tiểu Học Thư của Tân An họ Chu, khiến cho biết những sự thực tiễn, người hiểu biết biết rằng (Trấn nam) không phải Ngô Hạ A Mông. ()

* Ngô Hạ A Mông: A Mông chỉ danh tướng thời Tam Quốc Lữ Mông. Lữ Mông trước không có học thức, sau nghe lời Tôn Quyền chuyên tâm học hành, về sau trở nên uyên bác. Ngô Hạ A Mông (吳下阿蒙) chỉ người kiến thức nông cạn. Phi Ngô Hạ A Mông (非吳下阿蒙) thường chỉ không còn là kẻ kiến thức hạn hẹp như xưa nữa.

Gia Liệt theo thế tập được phong Đô Thống, Trần Hòa Thượng ứng thi bổ nhiệm làm vệ sĩ, không lâu sau chuyển làm Phụng Ngự. Đến khi Gia Liệt làm Nguyên Sư Phủ Sự của Thọ và Tứ Châu, tấu cho Trần Hòa Thượng đi theo, chiếu làm Sung Tuyên Sai Đề Khống, đeo kim phù. Gia Liệt cho vời Vương Ác người Thái Nguyên làm Kinh Lịch. Ác tự là Trọng Trạch, văn chương bàn luận cỡ như Lôi Uyên, Lý Hiến Năng, cho nên được vừa làm thầy vừa làm bạn. Trần Hòa Thương thiên tư thông minh, rất thích văn sử, tự ngày làm cấm vệ, người ta xem như tú tài. Đến đây, Ác tặng "Hiếu Kinh", "Tiểu Học", "Luận Ngữ", "Xuân Thu Tả Thị Truyện", đại lược thông hiểu nghĩa của chúng. Trong quân không có chuyện gì, thì dưới cửa sổ lấy bút lông bò viết chữ nhỏ, như một sĩ nhân kham khổ, (Hòa Thượng) xem mùi vị thế gian vô vị.

Chinh Đại năm thứ hai (1225), Gia Liệt bị giáng chức quan, liệt làm Tổng Lĩnh, đồn ở Phương Thàng. Trần Hòa Thượng đi theo, phàm những chuyện trong quân của anh đều tham dự hay hay biết. Gia Liệt bấy giờ đang bệnh, trong quân có kẻ tên Lý Thái Hòa cùng với Phương Thành Trấn Thủ Quân Cát Nghi Ông đánh nhau, tố với Trần Hòa Thượng, Nghi Ông không đúng, liền xét tình mà đánh phạt. Tuyên Ông vốn hung hãn, vì oan uất chịu đòn mà thấy nhục, lại uất ức mà chết, nói lại với vợ rằng, tất báo thù Trần Hòa Thượng. Vợ kiện Trần Hòa Thượng vì ân oán cá nhân mà xâm phạm thẩm quyền chức quan, cho nên giết chồng bà ta, tố ở (ngự sử) đài, hành tỉnh và cận thị, lại chất củi ở phía Nam cầu Long Tân, ước nếu không báo được thù, thì tự thiêu để tạ tội với chồng mình. Do vậy Trần Hòa Thượng bị trói vào ngục. Những người nghị sự nghi Trần Hòa Thượng cậy vào chức cận vệ, ỷ vào quyền binh cao, tất hoành hành phạm pháp, nên ghép vào tội chết. Tâu lên hoàng thượng, lâu không thể quyết. Trần Hòa Thượng gom sách đọc trong ngục, cả thảy mười tám tháng. Năm sau, Gia Liệt khỏi bệnh, chiếu đề binh tiến hướng Tây, lúc vào triều, Ai Tông kinh ngạc thân hình gầy gò, hỏi: "Khanh chả nhẽ vì việc giam ngục ở Phương Thành chưa quyết mà ra thế này sao? Khanh cứ an tâm, ta nay sẽ ân xá cho hắn." Vì ngự sử đài có lời can gián, nên không dám tha. Không lâu sau, Gia Liệt mất. Hoàng thượng nghe thấy, mới sai người chạy trạm miễn tội cho Trần Hòa Thượng, nói: "Có quan lại tấu người vì tư thù giết người. Anh người đã mất, ta mất đi một danh tướng. Nay vì việc anh ngươi, lách luật tha ngươi, thiên hạ ắt có kẻ dị nghị ta. Ngày nào đó, ngươi dốc sức lập công danh, quốc gia được người giúp sức, mới khiến ta không tùy tiện tha ngươi." Trần Hòa Thượng vừa khóc vừa lạy, tả hữu đều cảm động, không nói được lời nào để cảm tạ. Bèn lấy áo trắng lĩnh chức Vi Tự Quân Đô Thống, năm sau chuyển làm Trung Hiếu Quân Đề Khống.

Năm thứ năm (1228), quân Bắc (tức Mông Cổ) vào Đại Xương Nguyên, Bình Chương Nhuế Quốc Công hỏi ai có thể làm tiền phong, Trấn Nam đứng ra ứng mệnh. Trước tiên tắm gội thay áo, như người sắp bất động, mang giáp lên ngựa không nhìn lại. Ngày hôm ấy, lấy bốn trăm kỵ binh phá tám nghìn quân địch, thừa thắng truy theo hướng Bắc, doanh trại đều dời phía Tây, ba quân tướng sĩ phấn chấn muốn chiến, có sự anh dũng tất tiến, cho nên tự lúc hưng quân hai mươi năm mới có chiến thắng này. Tấu công xếp hạng nhất, (hoàng thượng) viết chiếu khen ngợ, phong Định Viễn Đại Tướng Quân, Bình Lương Phủ Phán Quan, thế tập Mưu Khắc, một ngày danh thế chấn động thiên hạ.

Năm thứ năm (1228), quân Bắc (tức Mông Cổ) vào Đại Xương Nguyên, Bình Chương (Hoàn Nhan) Hợp Đạt hỏi ai có thể làm tiền phong, Trần Hòa Thượng đứng ra ứng mệnh. Trước tiên tắm gội thay áo, như người sắp bất động, mang giáp lên ngựa không nhìn lại. Ngày hôm ấy, lấy bốn trăm kỵ binh phá tám nghìn quân địch, ba quân tướng sĩ phấn chấn muốn chiến, cho nên tự lúc hưng quân hai mươi năm mới có chiến thắng này. Tấu công xếp hạng nhất, (hoàng thượng) viết chiếu khen ngợ, phong Định Viễn Đại Tướng Quân, Bình Lương Phủ Phán Quan, thế tập Mưu Khắc, một ngày danh thế chấn động thiên hạ.

Kim Sử, Ai Tông Bản Kỷ, quyển 17 ghi:

Năm thứ sáu (1229), tháng hai, bính thìn (...), Di Lạt Bồ A soái Trung Hiếu Quân Tổng Quản Hoàn Nhan Trần Hòa Thượng cùng một nghìn kỵ Trung Hiếu Quân đồn ở Bân Châu.

Tháng ba, Trung Hiếu Quân Tổng Lĩnh Trần Hòa Thượng có chiến công, thụ phong Định Viễn Đại Tướng Quân, được thế tập mưu khắc.

Đông tháng mười, Di Lạt Bồ A về lại phía Đông, lệnh Trần Hòa Thượng quân mã quy thuận ở Thiểm Tây đồn Quân (Châu), (hoàng thượng) đồng ý.

Trung Hiếu quân, đều là người Hồi Hột, Nãi Man (tức Naiman), Khương, Hồn cùng với những kẻ tránh tội bị bắt đến quy hàng ở Trung Nguyên, hung tợn kiêu binh, nổi tiếng khó trị. Trần Hòa Thượng quản chúng có phương lược, cúi đầu nghe lệnh, ngoan ngoãn dễ bảo, nói đông tiến sang đông, tây tiến sang tây, dễ như lùa dê heo đuổi cáo thỏ vậy, những châu ấp đi qua thường chỉ lấy lương thực, ngoài ra không tơ hào xâm phạm gì, , mỗi khi tham chiến thì xung phong lên phía trước hãm trận, nhanh như gió mưa, chư quân đều dựa vào đấy làm chủ lực. Năm thứ sáu, có chiến thắng Vệ Châu. Năm thứ tám, có chiến thắng Đảo Hồi Cốc. Tự lúc chịu hình ngục được thăng không quá bốn năm lần, làm Ngự Vũ Trung Lương Tướng, chức quan thế tập, do vậy mà bốn phương trong ngoài, biết đến Thánh Thiên Tử trong ngục ở Phương Thành an định quốc gia, cố kết nhân tâm, làm phấn chấn sĩ khí để rộng lượng cứu giúp những kẻ gian nan.(...)Bệ hạ do vậy mà ngự được tướng lĩnh, Trấn Nam do vậy mà báo quốc, giữa quân thần có thẻ (nói) là không thẹn với thiên cổ vậy.

Trung Hiếu quân, đều là người Hồi Hột, Nãi Man (tức Naiman), Khương, Hồn cùng với những kẻ tránh tội bị bắt đến quy hàng ở Trung Nguyên, hung tợn kiêu binh, nổi tiếng khó trị. Trần Hòa Thượng quản chúng có phương lược, đứng ngồi tiến lui đều phải đúng quy định, những châu ấp đi qua thường chỉ lấy lương thực, ngoài ra không tơ hào xâm phạm gì, giữa đường phố không tiếng huyên náo, mỗi khi tham chiến thì xung phong lên phía trước hãm trận, nhanh như gió mưa, chư quân đều dựa vào đấy làm chủ lực. Năm thứ sáu (1229), có chiến thắng Vệ Châu. Năm thứ tám (1231), có chiến thắng Đảo Hồi Cốc. Tự lúc chịu hình ngục được thăng không quá bốn năm lần, làm Ngự Vũ Trung Lương Tướng.

Đại Kim Quốc Chí, quyển 26, ghi lại thất bại nặng nề của quân Mông khi tấn công Đồng Quan. Năm ấy là năm Chính Đại thứ 7 (1230), sách ghi:

Chính Đại năm thứ bảy (1230, mùa xuân tháng giêng), quân Mông Cổ ở Khánh Dương, Vệ Châu đều thất lợi, không đạt tham vọng. Thân lĩnh tinh nhuệ bốn mươi vạn công thẳng vào Đồng Quan, vài tháng không thắng, chọn bốn vạn người chặt đá phạt mộc, khoét núi Thương Vu, mưu oát phúc (I) vào trong Lam QUan, bị Hợp Đạt đánh bại, mất hơn vạn người cùng vài vạn ngựa. Mông Cổ không thể vượt sông, vào cửa ải không đươọc, bèn tự Sơn Đông thông hảo với Nam Tống, muốn giả đạo Hoài Đông để đến Hà Nam.

* Oát phúc chi mưu: hai chữ oát phúc không rõ nghĩa, nhưng oát phúc chi mưu dùng để chỉ kế mượn đường đánh địch của quân Mông Cổ. Như nắm 1258, Uryangqadai trước khi xâm lược Đại Việt lần 1 đã gửi sứ giả đến, mưu muốn mượn đường và quân Đại Việt tập kích vào phía Nam nhà Nam Tống, hội quân với Qubilai ở Ngạc Châu.

Phó Khu (tức chức Khu Mật Phó Sứ) Di Lạt Bồ A không có mưu lược cẩn trọng, thường một ngày một đêm rủi quân hai trăm lý lấy lợi nhỏ, chư tướng không ai dám can gián ngăn trở. Trấn Nam nói riêng với người đồng cấp: "Phó Khu thân làm Đại Tướng Quân mà làm việc cướp bóc, hôm nay được tù binh ba trăm, mai được một hai nghìn bò dê, sĩ tốt mệt thở tới chết đếm không hết. Quốc gia vài năm tích góp, có ngày bị người này phá tan hết." Có kẻ báo cho Bồ A biết, có một ngày, đặt tiệc rượu hội chư tướng uống, rượu truyền đến tay Trần Hòa Thượng, Bồ A nói: "Người từng nói nói ra nói vào ta, lại nói quốc gia binh lực sẽ bị ta làm hư hoại hết, có thật vậy không?" Trấn Nam uống hết rượu, ung dung nói: "Có." Bồ A thấy Trần Hòa Thượng không có vẻ gì sợ, bèn buông một câu nói: "Có tội trước mặt luận bàn, không nói sau lưng.".

Phó Khu (tức chức Khu Mật Phó Sứ) Di Lạt Bồ A không có mưu lược cẩn trọng, thường một ngày một đêm rủi quân hai trăm lý lấy lợi nhỏ, trong quân không ai dám can gián ngăn trở. Trần Hòa Thượng nói riêng với người đồng cấp: "Phó Khu thân làm Đại Tướng Quân mà làm việc cướp bóc, hôm nay được tù binh ba trăm, mai được một hai nghìn bò dê, sĩ tốt mệt thở tới chết đếm không hết. Quốc gia vài năm tích góp, có ngày bị người này phá tan hết." Có kẻ báo cho Bồ A biết, có một ngày, đặt tiệc rượu hội chư tướng uống, rượu truyền đến tay Trần Hòa Thượng, Bồ A nói: "Người từng nói nói ra nói vào ta, lại nói quốc gia binh lực sẽ bị ta làm hư hoại hết, có thật vậy không?" Trần Hòa Thượng uống hết rượu, ung dung nói: "Có." Bồ A thấy Hòa Thượng không có vẻ gì sợ, bèn buông một câu nói: "Có tội trước mặt luận bàn, không nói sau lưng."

Kim Sử, Ai Tông Bản Kỷ, quyển 17 ghi:

Năm thứ 8 (1231), tháng mười hai kỉ vị [...], Hợp Đạt, Bồ A soái chư quân vào Đặng Châu, Dương Ốc Diễn, Trần Hòa Thượng, Võ Tiên đều dẫn quân đến hội.

Năm thứ nhất, Quân Châu bị hãm, quân Bắc hạ thành, lập tức thả quân ác chiến. Trấn Nam vào chỗ ẩn nấp, đợi khi việc chóc yên ổn lại bèn bước ra, tự nói rằng: "Ta đại tướng Kim quốc, muốn gặp Hợp An nói chuyện." Binh sĩ lấy vài kỵ kẹp lại đem trước trướng. Hỏi danh tính thì bảo: "Ta là Trung Hiếu Quân Tổng Lĩnh Trần Hòa Thượng đây. Đại Xương Nguyên thắng là do ta, Vệ Châu thắng cũng do ta, Đảo Hồi Cốc thắng cũng do ta. Ta chết trong loạn quân, người người sẽ nói ta phụ quốc gia mình, hôm nay minh bạch chết, thiên hạ tất biết đến ta." Bấy giờ muốn hắn hàng, chặt gãy chân vẫn không chịu khuất phục, (...) khoét từ miệng đế tai, phun máu mà la hét, đến chết không thôi. Người Bắc khâm phục nghĩa tiết, rưới rượu ngựa, cầu rằng: "Hảo nam tử, ngày khác tái sinh, hãy để ta có hắn." Bấy giờ năm tuổi bốn mươi mốt. Hết bia

Năm thứ chín (1232) () tháng giêng, thất bại trên núi Tam Phong, chạy vào Quân Châu. Thành bị phá, đại binh vào thành, lập tức thả quân ác chiến. Trần Hòa Thượng vào chỗ ẩn nấp, đợi khi việc chóc yên ổn lại bèn bước ra, tự nói rằng: "Ta đại tướng Kim quốc, muốn gặp (đại tướng) nói chuyện." Binh sĩ lấy vài kỵ kẹp lại đem trước trướng. Hỏi danh tính thì bảo: "Ta là Trung Hiếu Quân Tổng Lĩnh Trần Hòa Thượng đây. Đại Xương Nguyên thắng là do ta, Vệ Châu thắng cũng do ta, Đảo Hồi Cốc thắng cũng do ta. Ta chết trong loạn quân, người người sẽ nói ta phụ quốc gia mình, hôm nay minh bạch chết, thiên hạ tất biết đến ta." Bấy giờ muốn hắn hàng, chặt gãy chân vẫn không chịu khuất phục, khoét từ miệng đến tai, phun máu mà la hét, đến chết không thôi. Đại tướng khâm phục nghĩa tiết, rưới rượu ngựa, cầu rằng: "Hảo nam tử, ngày khác tái sinh, hãy để ta có hắn." Bấy giờ năm tuổi bốn mươi mốt. Năm ấy tháng sáu, chiếu tặng Trấn Nam Quân Tiết Độ Sứ, đắp tượng ở Bao Trung Miếu, khắc đá ghi việc trung liệt của Trần Hòa Thượng.

* Năm thứ chín nguyên hiệu Chính Đại chính là năm thứ nhất nguyên hiệu Thiên Hưng. Tháng giêng năm 1232, cải thành niên hiệu Khai Hưng, tháng tư lại cải thành 

Kim Sử, Ai Tông Bản Kỷ, quyển 17 ghi:

Năm đầu Thiên Hưng (1232), đinh dậu, tuyết lớn. Quân Đại Nguyên cùng quân hai Hành Tỉnh chiến trên núi Tam Phong ở Quân Châu, quân hai Hành Tỉnh tan vỡ lớn, Hợp Đạt, Trần Hòa Thượng, Dương Ốc Diễn chạy vào Quân Châu, thành bị phá, đều chết ở đấy.

Gia Lệt tên Đỉnh, tự Quốc Khí, thế tập mãnh an ở Tất Lý Hải. Năm thứ hai mươi, vì thiện chiến nổi danh. Tự lúc làm Thọ, Tứ Châu Nguyên Soái chuyển làm An Bình Đô Úy, trấn thủ Thương Châu, uy vọng rất lớn, tôn trọng bậc hiền giả hạ sĩ, có phong thái của một hiền tướng thời cổ. Ban đầu đến Thương Châu, một ngày tìm kiếm, giữa rừng trúc lớn tìm thấy con cháu của Âu Dương Tu, hỏi mới biết thế, đều thả đi ba nghìn người tộc thuộc trong hương.

Cuong Vu

5 ( 1 bình chọn )

Khám Phá Lịch Sử

https://khamphalichsu.com
Những quan điểm, góc nhìn về lịch sử qua các bài viết tìm hiểu, nghiên cứu, khám phá lịch sử Việt Nam, lịch sử thế giới, văn hóa Việt Nam, văn hóa thế giới

Cùng chủ đề

Bài viết mới