Nhân vật lịch sử

Tổng hợp các tin báo về lễ tang Phụ Thiên Thuần Hoàng hậu - 1935

Tổng hợp tin báo đầu thế kỷ XX về lễ tang Phụ Thiên Thuần Hoàng hậu diễn ra từ cuối tháng 11 - cuối tháng 12, 1935. Mọi thông tin đăng tải về tang lễ đức Thánh cung - Khôn Nguyên Xương Minh Thái hoàng thái hậu đều tương tự với bài báo gốc, thể hiện góc nhìn cùng nội dung mô tả của các nhà báo đương thời.
13/03/2021 11h:15 2.41K

Nội dung bài viết

Phụ Thiên Thuần Hoàng hậu 輔天純皇后

- Huý danh: Nguyễn Hữu Thị Nhàn 阮有氏嫻 

- Tự danh: Học Khương 學姜 

- Tôn hiệu: Thánh cung 聖宮 

- Ngày sinh: 01/11 năm Canh Ngọ (22/12/1870) 

- Ngày mất: 24/10 năm Ất Hợi (19/11/1935)

- Các vị thứ đã trải:

  • Cung tần (nhập cung) -- triều Đồng Khánh -- 13/01 - 27/01 năm Bính Tuất (16/02-02/03/1886) 
  • Hoàng quý phi -- triều Đồng Khánh -- 28/01 năm Bính Tuất - 03/01 năm Kỷ Sửu (03/03/1886-02/02/1889) 
  • Nội cung tiên triều, tiền triều -- triều Thành Thái, Duy Tân -- năm Kỷ Sửu - năm Bính Thìn (1889-1916) 
  • Hoàng thái hậu (tấn tôn) -- triều Khải Định -- tháng 12 năm Bính Thìn (tháng 12/1916-tháng 1/1917) 
  • Khôn Nguyên Hoàng thái hậu (gia hiệu) -- triều Khải Định, Bảo Đại -- năm Quý Hợi - năm Quý Dậu (1923-1933) 
  • Khôn Nguyên Xương Minh Thái hoàng thái hậu (gia tôn) -- triều Bảo Đại -- tháng 2 năm Quý Dậu - 24/10 năm Ất Hợi (tháng 2-3/1933 - 19/11/1935)

- Thuỵ hiệu: Phụ Thiên Dực Thánh Khôn Nguyên Xương Minh Mục Từ Quảng Hậu Trang Tĩnh Nhân Thọ Thuần Hoàng hậu 輔天翊聖坤元昌明穆慈廣厚莊靜仁壽純皇后

Lịch sử đức Thánh cung - Khôn Nguyên Xương Minh Thái hoàng thái hậu

(Đăng trên tuần báo Thanh Nghệ Tĩnh tân văn, số 69, 29/11/1935)

Thánh cung tức là đức Khôn Nguyên Xương Minh Thái hoàng thái hậu. Vào ngày 24 tháng 10 ta, hồi 9 giờ tối (19 Novembre) ngài nhân bệnh mà băng. Ngài sinh ngày mồng một tháng 11 năm Tự Đức 23 (22 Décembre 1870), hằng năm lấy ngày ấy làm lễ Thánh thọ, đến năm nay thọ được 66 tuổi.

Ngài là con gái cụ Nguyễn Hữu Độ, cố mệnh lương thần, Thái tử thái sư, Cần Chánh Đại học sĩ, Bảo quốc Huân thần sung Cơ mật viện đại thần, Khâm sai Bắc kỳ kinh lược đại sứ, Vĩnh Quốc công. Đức mẹ là Trần thị, Cực phẩm Vĩnh Quốc phu nhân.

Ngày 13 tháng giêng năm Đồng Khánh thứ nhứt (1886), ngài được tiến nội, đến ngày 28 tháng ấy, tấn phong Hoàng quý phi, đức tiên hoàng Đồng Khánh lại có ban cho một cái “kim bài” (bề ngang khắc bốn chữ “Đồng Khánh sắc tứ”, bề dọc khắc bốn chữ “kiêm nhiếp lục viện”).

Lúc bấy giờ, Cần Chánh điện Đại học sĩ, Vĩnh Quốc công có dâng lá sớ lên xin từ, đại ý nói: “Người con gái chúng tôi còn trẻ tuổi, trước đây, vâng ý chỉ hai đức Thái hoàng thái hậu, nên phải đưa sung vào nội đình, nay bỗng chốc đứng đầu các hàng phi tần trong nội cung, sợ con chúng tôi có sinh lòng kiêu căng chăng, dám xin cho sung vào tài nhân hay mỹ nhân để vài ba năm nữa, quen thuộc về đường nữ tắc rồi sẽ nhờ ơn trên tấn phong cũng chưa muộn…

Song đức tiên hoàng Đồng Khánh không chuẩn y lời sớ ấy, liền giao cho đình thần bàn luận. Đình thần tâu lên rằng ngài tuy còn nhỏ tuổi mặc dầu, mà đã từng được lời dạy bảo trong gia đình, vậy thì nay tấn phong chức Hoàng quý phi tưởng cũng là xứng đáng, huống chi chức Cần Chánh điện Đại học sĩ Nguyễn Hữu Độ một thân đối với nhà nước lúc bấy giờ rất là quan hệ, vả tấm lòng trung ái bề trên đã thấu rõ cho, vậy việc tấn phong không nên từ chối.

Tiên hoàng mới chuẩn y lời tấn của đình thần rồi ban dụ rằng:

Chốn khuê môn là nguồn gốc phong hoá, từ xưa các đấng Đế Vương đều mong được người hiền nữ để trông nom nội chính.

Quốc triều ta định ra nội đình trên bực nhứt giai, có một vị Hoàng quý phi để trông coi sáu viện, trải mấy đời cũng noi theo như vậy. Trẫm đương buổi tiềm long vâng đức Hoàng khảo chọn người con gái của Hậu quân Nguyễn Nhiễm làm phủ thiếp, tức là nguyên phối của trẫm đó, đầu lòng sinh được người con gái, tưởng là giai lão cùng nhau, ngờ đâu trẫm vừa lên ngôi báu, chưa kịp tấn phong thì nguyên phối đã vội lìa trần, trẫm rất thương tiếc.

Bấy lâu nay đã suy ân thăng chức cho các phi tần rồi, đến như vị chính phi thì còn chờ có người hiền đức. Vừa đây vâng ý chỉ đức Thánh tổ mẫu Từ Dũ Bắc Huệ Thái hoàng thái hậu cùng Thánh mẫu Hoàng thái hậu phán rằng Hoàng đế ngày nay trị vì, làm chủ cho thiên hạ thần dân, thế thì người làm tiêu biểu cho chốn cung phi, chẳng nên để lâu mà không chọn lựa, bèn dùng Nguyễn Hữu thị là con gái cố mệnh lương thần Cần Chánh điện Đại học sĩ Nguyễn Hữu Độ, sung vào nội đình.

Trẫm nghĩ vị đại thần ấy là dòng dõi trâm anh, mà phu nhân cũng người hiền đức, một nhà phúc hậu, tất sinh ra người gái hiền thảo; đời xưa, như Phục Ba nhà Hán, Tào thị nhà Tống đều là do giống nòi thanh quý mà để được tiếng thơm lâu đời. Sở dĩ họ Nguyễn Hữu thị ngày nay được tấn phong, cũng tự duyên trời dun dủi, chứ chẳng phải là việc ngẫu nhiên, phỏng bây giờ cứ noi theo lệ thường để đứng vào hàng phi, tần thì không yên ủi được lòng Lưỡng cung mà nương vào đâu để gây thành nền nội trị.

Nay tấn phong Nguyễn thị làm Hoàng quý phi, ngôi thứ đã định thì phàm ở trong cung đình đều phải kính tuân mệnh lệnh, nội trị có người. Trẫm mới yên lòng chăm lo việc quốc chính, ấy là nghĩa trước tề gia mà sau trị quốc vậy.

Năm mây đã thấy chiếu trời; thì vị đứng đầu các bực cung phi mới định.

Kế đó ngài có sinh hai vị con trai tên là Bửu Nguy và Bửu Nga nhưng đều mất sớm cả.

Em trai ngài là ông Nguyễn Hữu Lữ, hiện Tham tri bộ Lễ và ông Nguyễn Hữu Tý, hiện Tuần vũ Quảng Trị.

Sau ba năm, đức Cảnh Tôn thăng hà (đức Đồng Khánh Hoàng đế) thì ngài Khôn Nguyên Thái hoàng thái hậu lên trú tất ở điện Ngưng Hy để thờ phụng tiên hoàng.

Đến năm Khải Định thứ 1 (1916) sau khi đức Khải Định lên ngôi, thì rước ngài về cung Diên Thọ để tiện bề thần hôn.

Tháng 12 năm ấy, đức Khải Định Hoàng đế thân dẫn đình thần dâng kim sách, kim bảo mà tôn ngài lên Hoàng thái hậu.

Ngài khiêm nhường không chịu đương lấy huy hiệu ấy. Nhưng nhà vua tâu lên đôi ba lần ngài mới nhận lời.

Đến năm Khải Định thứ 4 (1919) ngày mồng một tháng 11 là vào dịp đại khánh “Ngũ tuần Thánh thọ”.

Đức Khải Định Hoàng đế dẫn đình thần đến cung Diên Thọ dâng tờ kim tiên để làm lễ bái khánh.

Ngài cũng khiêm nhường, đại ý nói rằng: “Ta đối với xã tắc chưa có điều gì gọi là lợi ích, so sánh với các mẫu hậu đời xưa, hãy còn kém sút, ta không muốn phô bày ra nghi lễ linh đình chi cho phiền phí, nhưng Hoàng đế cùng đình thần đã có lòng thành như thế thì ta cũng chiều ý mà y cho.

Thế nhưng nhà nước Bảo hộ (chỉ Pháp) vừa mới tạm yên việc Âu chiến, về phần tài chánh chưa được dồi dào cho lắm, thì lễ tiết ngũ tuần phải tuỳ nghi châm chước, chớ không nên phô trương ra nhiều, để khỏi phần tổn hao vô ích.

Năm Khải Định thứ 7 (1922), đức Khải Định Hoàng đế ngự giá như tây, trong khoảng đó, phàm việc lễ nghi cùng là quốc chính dân chính cũng đều có tâu lên ngài đổng tất rồi mới thi hành, cho đến ngày ngự giá hồi loan.

Năm Khải Định thứ 8 (1923), đức Khải Định Hoàng đế lại thân dẫn đình thần dâng kim sách, kim bảo và bảo kiếm để gia tôn ngài lên Khôn Nguyên Hoàng thái hậu. Ngài cũng có lòng áy náy về quốc gia chưa được thịnh vượng, quốc dân hãy còn đói kém mà không bằng lòng nhậm lấy huy hiệu tôn sùng ấy. Nhà vua cùng đình thần tâu xin mãi, ngài mới y cho.

Xem thêm: Lễ Tứ Tuần Đại Khánh của vua Khải Định, tháng 9 năm 1924

Đến tháng 2 năm Bảo Đại thứ 8 (1933), gia tôn lên Khôn Nguyên Xương Minh Thái hoàng thái hậu.

Ngài là một vị Đế Hậu có đức nhân từ, thường dủ lòng thương những người đói khổ, nên hội Lạc Thiện ở Huế, ngài có chiếu cố đến.

Nay bỗng nghe linh giá thăng hà, thần dân ai nấy đều cảm động xiết bao, nghe đâu nhà nước có tạm trích một số 5.000p (piastre, tức đồng bạc Đông Dương) để lo liệu các việc tang lễ, còn tổng số chi tiêu về tang nghi thì chưa rõ là bao nhiêu, đến ngày bốn tháng 11 ta sắp tới đây làm lễ thành phục. Đến như ngày Ninh lăng thì chưa định.

Bạn đang xem: Tổng hợp các tin báo về lễ tang Phụ Thiên Thuần Hoàng hậu - 1935

Chân dung đức Thánh cung vận ngự phục
Chân dung đức Thánh cung vận ngự phục (Nguồn: Flickr Manhhai)

Đức Khôn Nguyên Thái hoàng thái hậu thăng hà

(Đăng trên Thanh Nghệ Tĩnh tân văn, số 68, 22/11/1935)

Đức Thánh cung Khôn Nguyên Xương Minh Thái hoàng thái hậu vừa mới thăng hà tại cung điện khi 9 giờ đêm ngày 24 tháng 10 ta (19 Novembre 1935), hưởng thọ 66 tuổi.

Được tin, quan Khâm sứ Graffeuil và các cụ Cơ Mật liền vào chầu yết khi 10 giờ đêm.

Ngài là con ngài Vĩnh Quốc công Nguyễn Hữu Độ, nguyên làm Kinh lược Bắc Kỳ.

Đức Khôn Nguyên đưa vào Nội chầu đức Đồng Khánh từ lúc 16 tuổi, tấn phong làm Hoàng Quý phi.

Đến khi đức Hoằng Tôn Tuyên Hoàng đế (đức Khải Định) đăng quang năm Khải Định nguyên niên, tấn tôn lên Hoàng thái hậu.

Đến năm Khải Định thứ 8, tấn tôn huy hiệu “Khôn Nguyên Hoàng thái hậu”.

Sáng ngày 25 (20 Novembre) các Hoàng thân, Cơ Mật Đại thần và văn võ đình thần vào chầu yết.

Chừng 3 giờ chiếu ngày ấy phụng nghinh vào Tử cung (nhập liệm).

Còn lễ nghi về việc tang nghi sẽ do bộ Lễ và Hội đồng tang nghi bàn định.

Ngài Khôn Nguyên Thái hoàng thái hậu thăng hà

(Đăng trên Tràng An báo, số 77, 22/11/1935)

Chín giờ tối hôm 19 Novembre, ngài Thánh cung Khôn Nguyên Xương Minh Thái hoàng thái hậu đã thăng hà tại cung Diên Thọ, hưởng thọ 66 tuổi. Ngài vốn đau yếu có chứng thấp đã lâu năm, chừng 15 bữa nay lại mắc thêm bệnh niệu độc (urémie) nữa.

Quan Chánh sở Y tế Terrisse chữa Ngài từ ngày mới mắc chứng niệu độc cũng đã biết trước là khó lành được.

Ngày 19 Novembre, Ngài tỉnh lắm, không có triệu chứng gì là nguy cả.

Sáu giờ chiều Ngài còn nói chuyện rất hoạt bát với ngài Mỹ Lương công chúa, thần sắc hồng hào, tưởng chừng như bệnh tình có phần thuyên giảm.

Chín giờ tối, bỗng nhiên Ngài nấc lên một cái rồi gục xuống. Bà Huyền phi đức Thành Thái là em ruột Ngài ngồi hầu bên cạnh biết rằng đã đến lúc nguy, một mặt cho đi triệu quan Chánh Y tế, một mặt cho đi thỉnh Hoàng đế.

Mười lăm phút sau, quan Chánh Y tế tới, bắt mạch, nghe trái tim rồi tiêm một phát thuốc cuối cùng. Ngài vẫn không hồi lại.

Một bầu không khí lạnh lẽo bao phủ cung Diên Thọ, mấy bà cung phi cùng các thị nữ sụt sùi khúc. Gần di hài ngài Thánh cung, đức Hoàng đế gạt ngang giọt lệ.

Tin buồn loan báo khắp Đại Nội rồi truyền khắp các nơi. Nửa giờ sau các quan Thượng thơ đã có đủ mặt. Quan Khâm sứ Graffeuil đi hành hạt miền Ban Mê Thuột về, được tin, vội vàng vào ngay Đại Nội chia buồn cùng Hoàng đế.

Đêm đó, quan Trung quân Nguyễn Hữu Tiễn hạ lệnh cho lính khố vàng giữ hết các cửa ngõ vào cung Diên Thọ, chỉ có các bà chúa các nội thần và các quan đại thần mới được ra vào.

Ngài Thánh cung là trưởng nữ quan cố Kinh lược Nguyễn Hữu Độ. Hiện nay Ngài còn hai người em trai là quan Tuần vũ Quảng Trị Nguyễn Hữu Tý, quan Tham tri bộ Lễ Nguyễn Hữu Lữ và một người em gái là bà Huyền phi. Ông Phò mã Nguyễn Hữu Khâm lấy ngài Tân Phong công chúa, mới tạ thế ba hôm trước (16 Novembre) cũng là em ruột của Ngài.

Ngài được tuyển làm Phi từ năm 1885, lúc đó mới 16 tuổi.

Khải Định nguyên niên, Ngài được tấn tôn huy hiệu Khôn Nguyên Hoàng thái hậu.

Bảo Đại thứ tám, Kim thượng hồi loan thân chánh, gia tôn lên Khôn Nguyên Xương Minh Thái hoàng thái hậu.

Ba giờ rưỡi chiều hôm 20, đã khâm liệm. Lễ nghi về tang nghi sẽ do bộ Lễ và Hội đồng tang nghi bàn định.
Năm giờ rưỡi có quan Khâm sứ Trung Kỳ và văn phòng của ngài sang viếng.

Các công sở đã bắt đầu treo cờ rủ.

Một cái tang lớn cho triều đình Huế, Đức Khôn Nguyên Thánh cung Thái hậu đã từ trần đêm qua

(Đăng trên Hà Thành ngọ báo, số 2458, 21/11/1935)

Huế, 20 Novembre - Đêm qua, hồi 9 giờ tối, đức Khôn Nguyên Thánh cung Thái hoàng thái hậu đã từ trần, hưởng thọ 66 tuổi. Lúc ngài hấp hối, có Hoàng thượng, Hoàng hậu và quan Khâm sứ Graffeuil tới thăm.

Đức Khôn Nguyên, Thánh cung là Chánh cung đức Đồng Khánh và là con gái quan Kinh lược Nguyễn Hữu Độ. Ngài không có con, lúc sinh thời có tiếng là một người hay chữ và đức hạnh.

(Tin điện tín N. B.)

Một cái tang lớn cho triều đình Huế ngài Khôn Nguyên Thái hoàng thái hậu đã thăng hà hồi 9 giờ tối 19 novembre tại cung Diên Thọ

(Đăng trên Hà Thành ngọ báo, số 2460, 23/11/1935)

(Tin riêng của phóng viên bản báo)

Mấy năm nay, ngài Khôn Nguyên Thái hoàng thái hậu, tục gọi Thánh cung, thánh thể không được mạnh nên thường thường chỉ ngự trên lầu cung Diên Thọ và ít ngự thừa lương. Tháng gần đây, khí trời thay đổi, bệnh của Thái hậu có vẻ trầm trọng, đức Kim thượng lấy làm lo nên thường ngày với bác sĩ Terrisse, Chánh sở Y tế Trung Kỳ cùng các bác sĩ giỏi vào cung chữa bệnh. Ngài Từ cung Thái hậu, các bà nội cung tiền triều luôn luôn chầu chực bên ngài Thái hậu.

Nhưng thiên số đã định, 9 giờ tối 24 ta, ngài Khôn Nguyên đã thăng hà.

Những phút cuối cùng của ngài Thánh cung

7 giờ… 8 giờ tối, trên lầu cung Diên Thọ, gần ngự toạ, ngài Từ cung Hoàng thái hậu, các bà tiền triều, các cung nga chầu chực. Bên Thái hậu có bà Khánh chăm lo Thái hậu. Ngoài sân chầu im lặng, chốc chốc chỉ có tiếng khắc canh và xa xa đưa tiếng chuông tại điện Phụng Tiên, chỗ thờ các vua, các thái hậu.

Ngài Thái hậu cựa mình, bảo nội thị chuyền tiêm (chích) ống thuốc hằng ngày. Hôm nay, khác các hôm khác, ngài Thánh cung để chích thuốc một cách dễ dàng.

Chích xong, ngài quay mặt vào ban cùng ngài Từ cung Thái hậu (thân sinh Hoàng thượng): “Ban về nghỉ, mấy hôm nay chầu khuya mệt, hôm nay tôi đã khoẻ”.

Rồi ngài Thánh cung cũng ban cho các bà khác về nghỉ.

Trên lầu chỉ còn lại bà Khánh – một vị nội cung trào Thánh Thái và là em ruột ngài Thái hoàng thái hậu.

Ngài Thái hậu ngồi dậy truyền đem “hảo thang” tẩy diện.

Đoạn, thần sắc tươi tốt hơn trước, truyền mở cửa chánh trên lầu. Trời lạnh, gió thổi mạnh nhưng lệnh Ngài ban, các cung nữ vâng lệnh mở cửa chánh trên điện.

Dựa mình trên chiếc gối vàng ngưỡng mặt ra cửa chánh, Ngài Thánh cung, nét mặt hiền lành, lẩm nhẩm niệm mấy câu kinh Phật thường ngày.

Vài phút sau, Ngài nằm xuống nghỉ, rồi thăng hà một cách êm ái.

Đồng hồ đổ 9 tiếng, hồn vị Nguyên phối của đức Đồng Khánh đã lìa khỏi xác.

Hoàng thượng, các ngài Thái hậu ngự tới cung Diên Thọ

Lập tức Nội giám qua điện Kiến Trung, tâu tin buồn để Hoàng thượng biết. Đức Kim thượng lập tức ngự qua cung Diên Thọ. Còn các cung nữ qua hai cung Trường Sanh và Thái Bình báo tin, cùng các ngài Khôn Nghi Thái hoàng thái hậu và ngài Từ cung Hoàng thái hậu.

Ngài Khôn Nghi, nghe tin ngài Khôn Nguyên băng, bèn lập tức qua cung Diên Thọ khóc bạn thâm cung. Giữa quãng đêm khuya, gió lạnh, tuổi già 68, ngài Khôn Nghi vội vàng ra khỏi điện, trên ngự y ướt đầm giọt lệ - xe ngự chưa tới cung Thọ Chỉ thì ngài Khôn Nghi phát lạnh, các quan ngự y bèn tâu lui xa giá hồi cung.

Ngài Từ cung Thái hậu khóc đến bất tỉnh

Tới gần ngự sàng, ngài Từ cung Thái hậu lăn lộn bên ngài Khôn Nguyên Thái hoàng thái hậu rồi khóc ngất, đến bất tỉnh. Đức Kim thượng phải gạt cơn đau đớn, tới dìu ngài Thái hậu xuống lầu.

Xem thêm: Chuyện mẹ chồng nàng dâu của Nam Phương hoàng hậu

Quan Khâm sứ và đình thần vào cung

Điện thoại loan báo tin buồn cho quan Khâm sứ, các quan Thượng thư. Quan Thượng thư Phạm Quỳnh và quan Đại nội Nghi lễ Bửu Thạch vào trước. Đúng 10 giờ đêm, quan Khâm sứ Trung Kỳ Graffeuil (vừa đi kinh lý về), ngài Thân vương, quan Thượng thư Cơ mật, quan Thượng thư phủ Tôn Nhân đều vào làm lễ.

Đại Nội trong khi đại tang

Tôi còn nhớ ngày nhỏ theo tổ mẫu vào cung chầu ngài Khôn Nguyên. Trong điện chói dọi nét vàng thắm, trên sập vàng một bà bận áo gấm vui vẻ ban chuyện cùng các bà mạng phụ vào chầu. Ngoài sân trần thiết rực rỡ, tiếng oanh vàng các cung nữ thỏ thẻ, vui cười thỉnh thoảng lại có tiếng nhạc thiều của ban nữ ca thao luyện. Đâu đâu cũng thấy mầu xanh đỏ các áo đua thắm cùng các bông hoa. Điện chia làm năm căn rộng, đầy đồ châu báu.

Tại căn chính, dưới ba chữ “Diên Thọ cung” to lớn, ngai vắng chủ - ngoài một tấm xô lớn che giấu nỗi đau thương.

Kề đó, tại căn thứ hai, một cái sập vàng, trên phủ một cái mền gấm vàng lớn. Bốn góc sập để bốn ngọn nến trắng, một người cháu ngài Thái hậu nói nhỏ với tôi: “Đó là ngài Thái thái hậu đắp mền vàng.”

Trên đầu sập, một cái án trên để các thứ kinh phủ vàng, dưới hai ngọn đèn lớn.

Dưới chân sập, mấy mươi người đàn bà thân thuộc ngài Thánh cung chầu chực.

Tấm lòng ngậm ngùi, tôi cúi đầu ra điện, vẳng vẳng bên tai còn nghe tiếng búa của các thợ mộc đang đóng Tử cung (quan tài) ngoài hiên đội lễ “Đại liệm”.

Lễ phụng nghênh vào Tử cung (nhập quan)

2 giờ chiều, Hoàng thượng chít khăn đen, bận áo đen xổ gấu, ngự qua cung Diên Thọ để dự lễ tiểu liệm.

Theo nghi lễ cũ, các cung nữ và các bà nội thích làm lễ mục dục thi hài ngài Thánh cung và bận đồ lễ phục cho ngài. Đến gần 4 giờ mới xong.

Các đình thần bận áo rộng đen đều dự lễ ngoài điện.

4 giờ rưỡi chiều, lễ “Đại liệm”. Trong Tử cung để nhiều áo của ngài Thánh cung, còn di hài ngài mặc bộ đại triều phục, gấm vàng thêu chín phụng, đai vàng, mão vàng, khảm châu – Hoàng thượng, Hoàng hậu, ngài Hoài Ân vương, ngài Phò Quang quận công, các quan Thượng thư, quan Thiếu bảo Tôn Thất Đàn, các bà Công chúa đều dự lễ…

5 giờ, quan Khâm sứ Trung Kỳ Graffeuil và phu nhân cùng văn phòng, các cố vấn bận đại lễ vào cung Diên Thọ điếu tang.

Quan Khâm sứ Graffeuil vào nghiêng mình đứng gần Tử cung (quan tài); quan Đại nội Nghi lễ Thượng thư bèn giở tấm gấm che mặt ngài Thánh cung để đại diện Pháp đình được chào lần cuối cùng.

Sau khi tỏ lời chia buồn của Chánh phủ Pháp, của quan Toàn quyền và kiều dân Pháp tại Đông Pháp, quan Khâm sứ nghiêng mình trước Tử cung làm lễ.

Tiểu sử của ngài Khôn Nguyên Thái hoàng thái hậu

Đức Thánh cung Khôn Nguyên Xương Minh Thái hoàng thái hậu, sinh ngày mồng một tháng 11 năm Canh Ngọ, năm nay hưởng thọ 66 tuổi.

Ngài là con ngài Vĩnh Quốc công Nguyễn Hữu Độ, nguyên làm Kinh lược Bắc Kỳ.

Đức Khôn Nguyên được đưa vào Nội chầu đức Đồng Khánh, từ lúc mới 16 tuổi tấn phong làm Hoàng quý phi (1885).

Đến khi đức Hoằng Tôn Tuyên Hoàng đế (đức Khải Định) đăng quang năm Khải Định nguyên niên tấn tôn lên Hoàng thái hậu.

Đến năm Bảo Đại thứ 8, sau khi Kim thượng hồi loan thân chánh, lại gia tôn lên “Khôn Nguyên Xương Minh Thái hoàng thái hậu”.

Ngài Thái hậu có tiếng giỏi về Hán học, lúc sinh trào Đồng Khánh, Ngài thường đọc các phiến sớ cho ngài Đồng Khánh lãm và tham dự triều chánh.

Trong lúc đức Khải Định ngự du tại Pháp, ngài Thái thái hậu thường xem các biểu chương và phê các án. Các nhà học giả tại triều đều phục tài hay chữ của Ngài.

Ở trong Tam cung, ngài tuy oai nghiêm, giữ cổ lễ nhưng vẫn tỏ ra là người nhân đức, xứng bậc Mẫu nghi.

Quốc tang

(Đăng trên tuần báo Loa, số 93, 28/11/1935)

Đức Khôn Nguyên Thái hoàng thái hậu đã thăng hà.

Người ta nói tại Triều đình Huế cũ, có hai người có nghị lực: Thái hậu và Phước Môn quận công Nguyễn Hữu Bài.

Quận công mất, một nghị lực đã mất. Nay Thái hậu không còn, cái nghị lực thứ hai không còn.

Nhưng nhiều người lại nói:

- Thái hậu vốn tiêu biểu cho tinh thần cũ, nay Ngài mất đi, thực là một mảnh hồn cũ đã mất.

Đáng buồn và đáng tiếc!

Về đám tang ngài Thánh cung

(Đăng trên Tràng An báo, số 78, 26/11/1935)

Hội đồng tang nghi

Về công việc tổ chức đám tang ngài Thánh cung, bộ Lễ cử một hội đồng tang nghi có những ông sau này:

Chánh Đổng hộ: Tôn Thất Quảng, Lễ bộ Thượng thơ;

Phó Đổng hộ: Bửu Thạch, Nghi lễ đại thần;

Chánh Đổng lý: Hường Đề, Lễ bộ Tham tri;

Phó Đổng lý: Nguyễn Đôn, Lại bộ Tham tri;

Hai ông Nguyễn Văn Bổn, Chưởng vệ hậu ngũ và Nguyễn Thiện Thủ, Chưởng vệ hữu tứ trông nom về công việc dàn xếp, ông Nguyễn Khắc Tưởng, Tá lý bộ Tài chánh trông nom về việc tiền bạc. Phan Triệu Khanh, Ngự sử kiểm sát về việc thi hành chương trình tang nghi và ông Tôn Thất Ngân, đại diện phủ Tôn Nhơn trong Hội đồng tang nghi.

Việc vặt kinh đô

(Đăng trên Tràng An báo, số 78, 26/11/1935)

Cấm mặc áo quần màu điều màu đỏ

Đức Thánh cung thăng hà là một lễ tang chung trong nước nên vừa rồi trong thành người ta nghe rao cấm không được mặc áo quần màu điều màu đỏ và cấm ăn mừng, hát xướng cùng các cuộc vui khác.

Di dung đức Khôn Nguyên Xương Minh Thái hoàng thái hậu
Di dung đức Khôn Nguyên Xương Minh Thái hoàng thái hậu (Nguồn: Tràng An báo, số 79, 29/11/1935)

Tang lễ ngài Khôn Nguyên Thái hoàng thái hậu

(Đăng trên Hà Thành ngọ báo, số 2461, 24/11/1935)

Lễ Sơ điện

Sau khi làm lễ “Đại liệm” hôm qua, Tử cung bọc gấm vàng để tại căn chánh cung Diên Thọ. Bộ Lễ nghi và các quan tại Đại Nội suốt đêm lo trần thiết linh sàng. Các cung nữ và nội giám phụng trực theo như ngày thường.

11 giờ sáng nay, lễ “Sơ điện” cử hành. Đức Kim thượng đã bận đồ tang: khăn trắng, áo trắng – Ngài Từ cung Hoàng thái hậu cũng chít khăn trắng làm lễ - Ngài Khôn Nghi Thái hoàng thái hậu khó ở, không làm lễ được. Các ngài Thân vương, các đại thần viện Cơ mật, quan Thượng thư phủ Tôn Nhơn và văn võ các quan đều bận áo thụng đen làm lễ.

Tuy lễ “Thành phục” chưa cử hành (có lẽ vào ngày thứ Hai hay thứ Ba sắp tới), người ta đã trông thấy ở Đại Nội nhiều người để tang.

Các công sở và biệt thự tại Trung Kỳ đều treo cờ rủ, các nhà hát to đều nghỉ diễn.

Lăng ngài Thánh cung ở đâu?

Ngày lễ Ninh lăng của ngài Thánh cung còn xa, nhưng hiện nay tại sở Vạn Vạn đã có người sửa soạn sắp đặt.

Sở Vạn Vạn là chỗ lăng của ngài Thánh cung ở gần Thiên Thành (lăng vua Đồng Khánh), không xa chỗ “Belvédère” (đồi Vọng Cảnh) bao nhiêu. Sở Vạn Vạn do đức Khải Định truyền làm từ 15 năm trước.

Hội đồng tang nghi

Lễ tang nghi có nhiều việc khó. Hiện nay các quan trong Hội đồng đã đặt:

Quan Thượng thư bộ Lễ nghi Tôn Thất Quảng chủ toạ, quan Đại Nội Nghi lễ đại thần Bửu Thạch phó chủ toạ và nhiều quan văn võ đã từng dự vào lễ tang nghi hồi đức Khải Định thăng hà.

Tang Đức Thánh Cung - Lễ thành phục vào giờ thân ngày mồng bốn tháng mười một

(Đăng trên Tràng An báo, số 79, 29/11/1935)

(Lễ Thành phục: Lễ mặc đồ tang)

Khâm thiên giám định lễ Thành phục vào ngày mồng bốn tháng mười một, giờ Thân (3 giờ chiều ngày 29 Novembre 1935).

Theo đúng nghi tiết lễ Thành phục đức Trang Ý năm Thành Thái thứ 14, bộ Lễ định chương trình lễ Thành phục ngài Khôn Nguyên Xương Minh Thái hoàng thái hậu như sau này:

Ngày mồng bốn, trước giờ Thân, ngài Từ cung Hoàng thái hậu và ngài Hoàng hậu Nam Phương ngự tới cung Diên Thọ, các ấn quan và các tôn tước họp ở Tả Trà, các công chúa và nội cung ở hậu điện Thọ Ninh, công tử công tôn, tôn thất, các thích lý họ Nguyễn Hữu chờ ở cửa Thọ Chỉ, các công nữ, vương phim phủ thiếp và mạng phụ chờ ở cửa Thọ Tường.

Đúng giờ Thân, ngài Hoàng thái hậu, ngài Hoàng hậu và mọi người đều bận tang phục.

Một viên Thái giám đưa “thần bạch” lên bàn thờ rồi ngài Hoàng thái hậu hành lễ “chiêm bái”.

Lúc đó Hoàng đế vừa ở điện Kiến Trung ngự đến, Ngài bận tang phục đại tang, chống gậy (vì ngài là đích tôn) ngự Lập vị. Đồng thời các quan cũng bận tang phục đứng xếp hàng theo phẩm trật lạy ở ngoài sân. Các quan lạy xong rồi đến công tử, công tôn và các thích lý.

Nghi chú còn định rằng ngài Hoàng hậu cũng hành lễ, nhưng chưa rõ sẽ hành lễ ra sao.

Sau ngài Hoàng hậu, một nữ quan đưa các bà chúa, các nội cung, các vương phi, các phủ thiếp và các mạng phụ đến trước bàn thờ để lạy.

Ngài Tiên cung hiện nay ngọc thể vi hoà, không biết bữa đó có dự lễ không, nếu như có thì quan Nghi lễ đại thần sẽ báo cho bộ Lễ nghi biết trước để sửa lại chương trình.

Lặng lẽ nhưng oai nghiêm, lễ thành phục đức Khôn Nguyên đã cử hành tại điện Diên Thọ

(Đăng trên Tràng An báo, số 80, 3/12/1935)

Trời mưa rỉ rích…

Một quang cảnh âm thầm lạnh lẽo, cái quang cảnh điện Diên Thọ ngày lễ Thành phục đức Khôn Nguyên Xương Minh Thái hoàng thái hậu.

Trước giờ Thân.

Trên sân điện Diên Thọ mênh mông rộng rãi, mấy chú lính bận áo xanh màu lục đi lại phờ phẫn, chốc chốc lại ngửng bộ mặt đừ đừ lên nhìn toà nhà lầu sừng sững bên góc sân, ngơ ngác với sự vần xoay của máy Tạo.

Dọc hàng hiên Tả Trà, lác đác mấy quan viên bộ Lễ lăng xăng xuôi ngược, hấp tấp vội vàng như sốt sắng với cái “chức trách nặng nề nó đè chĩu trên vai”, nếu có thể gọi là chức trách được, những công việc của những người đó!

Khăn trắng, áo trắng, người nào cũng khăn trắng áo trắng.

Đụng trán nhau, họ nhăn mặt phàn nàn:

- Rõ phiền!

Nhưng ta phải hiểu ngầm:

- Oai chưa!

Vì có thế nào mới được cái bộ y phục “phiền” ấy chớ! Bạch đinh thì đừng có hòng!

Tả Trà mỗi lúc một đông nghịt, trắng xoá, nhưng không ồn ào vì ai cũng buồn thiu, hay có vẻ buồn, đằng nào cũng thế.

Đám đông dào dạt cung kính vạch ra một lối đi nhường cho một người lọm khọm râu tóc bạc phơ: cụ Phù Quang quận công Tôn Thất Hân.

Mấy tháng trước, cụ Phước Môn (tức Nguyễn Hữu Bài) tạ thế, này ngài Thánh cung thăng hà trong một thời gian ngắn ngủi, cụ Thân Thần được thấy hai cái bóng của thời đại cũ vụt qua!

Vụt qua, là mất. Đáng tiếc, nhưng là lẽ tự nhiên!

Một tấn bi kịch hay hài kịch cũng được

Các bà mạng phụ bà nào cũng ủ dột cả. Nhưng có một bà trông rất thảm thiết, tưởng tượng như lễ Thành phục này là… riêng của nhà bà ta!

Bà ta cũng đã có tuổi rồi. Tả lại tấn kịch mà bà ta đã đóng vai chính ra đây e có người cho là… không biết kính lão! Thôi cũng liều, nhứt là… chết non là cùng chớ gì!

Rút vạt áo lên gạt mấy giọt lệ… đông, bà ta mếu xệch mếu xoạc kể lể với mấy bà đồng nghiệp đương chăm chú nghe một cách cảm động:

- Tôi với ngài Thánh cung là tri kỷ với nhau lắm. Tôi thường vô ra cung Diên Thọ luôn, lần nào ngài cũng ân cần hỏi han. Ít lâu nay tôi về quê ở Thanh Hoá dưỡng lão, không năng vào thỉnh an Ngài, bỗng được tin Ngài thăng hà, tâm can tôi như cắt. Tội nghiệp quá!

Xuýt xoa, mấy bà “thính giả” nói theo:

- Tội nghiệp!

Được thể, bà bạn của ngài Thánh cung lại nói tiếp:

- Biết tôi thanh bạch, hồi Ngài ngự giá ra Thanh Hoá, gặp tôi Ngài có ban cho một trăm…

Tấn kịch đến đây là vãn.

Nó hay ở chỗ: ngài Thánh cung không từng ngự giá đi đâu hết, cuộc ngự giá ra Thanh Hoá vừa rồi là của… ngài Tiên cung!

Bi kịch hay hài kịch, hay cả hai?

Bà mạng phụ này thủ vai chính cũng hay, nhưng chẳng lấy gì làm phục, vì ai thủ nó mà chẳng được! Không hiếm!

Lễ Thành phục

Đúng giờ Thân, Hoàng đế và Hoàng hậu ngự đến điện Diên Thọ. Theo sau xe ba Ngài có Hoàng thân Vĩnh Cẩn, ông Nguyễn Duy Quang và mấy viên thị vệ. Tại Hậu điện, Hoàng đế bận thâm y phục đại tang. Y phục này không giống như y phục mà ta thường thấy. Cũng may bằng thứ vải ta thô, nhưng phần trên có từng lớp và phần dưới thì xếp nhỏ như xiêm của đầm, trông thoáng như y phục người Ecossais nhưng dài hơn.

Y phục đại tang của Hoàng hậu cũng lạ mắt. Ngài trùm một cái mũ phủ kín cả mặt và dài lướt thướt kéo lê đằng sau đến hơn năm mươi phân tây. Cho khỏi vướng, có một thị nữ nâng cái vạt ấy. Y phục ngài Hoàng thái hậu cũng thế.

Bàn thờ ngài Thánh cung ở ngay giữa điện, Tử cung đặt ngay sau, có những tấm màn bằng sa tanh che kín.

Khói hương nghi ngút, đèn nến sáng trưng…

Kính cẩn, ông Giám Phương dận trên đôi hia trắng còn mới tinh thủng thẳng bước ra trước bàn thờ quỳ xuống tấu:

- Tấu thỉnh bạch thần ngự linh sàng!

Hai nữ quan cuốn hai tấm màn sa tanh vàng sang hai bên để lộ Tử cung ra.

Ngài Hoàng thái hậu tỉ tê khóc thảm thiết. Vẻ bùi ngùi cảm động hiện trên mặt mọi người.

Quan Khâm sứ sang dự lễ

Ngay lúc ấy, quan Khâm sứ Graffeuil do cửa Thọ Chỉ vào điện Diên Thọ dự lễ. Cùng đi với ngài có bà Khâm, ông Dupuy, ông Patau, ông Ducrest, ông De Redon, ông Collet, ông Sogay, ông Du Basty và ông Philip.

Vào trong điện, các đại biểu Chánh phủ Bảo hộ đứng về phía tay phải.

Hoàng đế hành lễ

Theo những câu xướng của mấy quan bộ Lễ đứng ngoài sân, những câu xướng khó lòng mà nhớ được (không kể các quan bộ Lễ). Hoàng đế chống gậy khoan thai bước ra trước bàn thờ, khi lên gối, khi xuống gối, khi lạy. Hoàng đế tỏ ra một người rất tôn trọng lễ nghi.

Đồng thời, ngoài sân và trong nhà rạp, các quan, các tôn tước, công tử, công tôn và tôn thất lạy theo Hoàng đế cả.

Rồi đến lượt các hưu quan, các bà mạng phụ, các công nữ và các công tôn nữ.

Hội Phật học với lễ Thành phục đức Khôn Nguyên

Biết sinh thời đức Thánh cung rất hâm mộ đạo Phật, hội Phật học ở Huế nhân lễ Thành phục ngài có xin phép mang ban đồng ấu của Hội vào tụng kinh siêu độ cho vong linh Ngài tại điện Diên Thọ.

Vào hồi năm giờ chiều ban ấy đã tụng kinh. Ban đồng ấu này có hai mươi cậu nhỏ, phần đông là con cháu hội viên, do Hội dạy dỗ và tổ chức thành.

Lễ Thành phục đức Thánh cung đến đây là hết.

Thời hạn tang chế

Bộ Lễ định thời hạn tang chế như sau này:

Hoàng đế: Y phục “tư thôi” trong một năm (lẽ ra thì phải ba năm, vì Hoàng đế là đích tôn thừa trọng; nhưng ngài Hoàng thái hậu còn đó, lễ nghi cũng có thể châm chước đi còn một năm thôi). Sau lễ Thành phục, y phục đó sẽ để ở Diên Thọ, chỉ khi nào có lễ gì thì Ngài mới bận còn những ngày thường thì bận áo đen và khăn đen.

Ngài Hoàng thái hậu: Y phục “trảm thôi” trong ba năm (tiếng vậy nhưng chỉ có 27 tháng thôi).

Ngài Hoàng hậu Nam Phương: Y phục “tư thôi” trong một năm.

Ngài Chúa Ngọc Lâm: Y phục “tư thôi” trong một năm.

Các bà nội cung triều Cảnh Tôn: Y phục “tư thôi” trong một năm.

Các ông Phò mã triều Cảnh tôn: Y phục “tư thôi” trong năm tháng.

Các Mệ con các ngài Chúa con đức Cảnh Tôn: Y phục “tiểu công” trong năm tháng.

Các bà nội cung triều Hoằng Tôn: Y phục “tư thôi” trong một năm.

Các Hoàng thân con đức Cung Tôn và ông Vĩnh Thuỳ, Hữu Tôn khanh: Y phục “tư thôi” trong năm tháng.

Các vương phi, quận phi và phủ thiếp: Chồng để bao nhiêu lâu thì vợ bấy nhiêu.

Các ngài Chúa con đức Cung Tôn: Y phục “tiểu công” trong năm tháng.

Các nội cung tiền triều và phủ thiếp ngài Kiên Thái vương: Y phục “tư ma” trong ba tháng.

Hoàng thân Vĩnh Cẩn: Y phục “tiểu công” trong năm tháng.

Bà Hiệp tá Vĩnh Phong: Y phục “đại công” trong chín tháng.

Bà Vĩnh Thuỳ: Y phục “tiểu công” trong năm tháng.

Các ấn quan: Y phục “tư thôi” trong ba tháng (chi khi nào dự lễ tại Diên Thọ cung mà thôi).

Các thuộc quan: Khi nào dự lễ tại điện Diên Thọ thì bịt khăn trắng.

Các mạng phụ: Theo như chồng.

Các quan phủ doãn, phủ thừa, các quan tỉnh và các quan lãnh binh được miễn không phải để chế.

Các thái giám và nữ quan cung Diên Thọ: Y phục “tư thôi” trong một năm.

Mấy điều nên biết

Trong một năm, mỗi khi vào bệ kiến Hoàng đế, các quan phải bận áo đen, khăn đen.

Tại kinh đô từ nay cho đến ngày lễ Ninh lăng (ngày táng), cấm ngặt không được hát xướng hoà đờn và bận quần áo màu sặc sỡ.

Cấm ngặt không được cưới xin, trong hai tháng cho các ấn quan, hai mươi ngày cho các quan từ Tứ phẩm sấp xuống và mười ngày cho lính và dân.

Hoàng thượng để tang ngài Khôn Nguyên

(Đăng trên Thanh Nghệ Tĩnh tân văn, số 71, 13/12/1935)

HUẾ - Tại cung Diên Thọ, chiều hôm mồng bốn tháng 11 ta (29 Novembre) đã cử lễ Thành phục đức Khôn Nguyên Xương Minh Thái hoàng thái hậu.

Đức Từ cung (tức là đức Đoan Huy Hoàng thái hậu) làm lễ chiêm bái và khóc rất thảm thiết.

Hoàng thượng ngự chế phục, áo tư thôi, mũ rơm vào làm lễ. Các ấn quan lạy trước sân.

Kế đến các công tử, công tôn, thích lý, làm lễ trước sân gần cửa Thọ Chỉ.

Xong lễ đó, các thái giám hạ các bức sáo trước cung. Ngài Nam Phương Hoàng hậu ngự chế phục, áo tư thôi làm lễ. Rồi đến các công chúa, các bà phi tần, các công nữ, vương phi, phủ thiếp, các bà mạng phụ vào làm lễ. Trong buổi lễ này có quan Khâm sứ quý phu nhân, các quan trong văn phòng toà Khâm, các quan Đại Hiến khác đến dự.

Hoàng thượng và Hoàng hậu để tang một năm, ngài Hoàng thái hậu để ba năm, các ấn quan ba tháng.

Vua Bảo Đại và các quan mặc chế phục trong lễ tang Thánh cung, bên cạnh là các quan Pháp. Ảnh chụp ngày 20/12/1935, nhằm ngày Ninh lăng đức Thánh cung
Vua Bảo Đại và các quan mặc chế phục trong lễ tang Thánh cung, bên cạnh là các quan Pháp. Ảnh chụp ngày 20/12/1935, nhằm ngày Ninh lăng đức Thánh cung (Nguồn: Flickr Manhhai).

Tôn thoại đức Thánh cung

(Đăng trên Tràng An báo, số 80, 3/12/1935)

Hoàng đế mới dâng Tôn thoại (titre posthume, tức thuỵ hiệu) cho đức Thánh cung. Tôn thoại này có 19 chữ do ông Trần Trinh Cáp Ty trưởng Ngự tiền Văn phòng lựa chọn. Công việc này cũng khó khăn lắm vì phải tránh hết thảy các tên huý từ trước tới nay, mà các tên huý phần nhiều lại là những chữ hay.

Đức Thánh cung từ nay trở đi không họi là Khôn Nguyên Xương Minh Thái hoàng thái hậu mà gọi là:

Phụ Thiên Dực Thánh Khôn Nguyên Xương Minh Mục Từ Quảng Hậu Trang Tịnh Nhơn Thọ Thuần Hoàng hậu”.

Lễ Thượng tôn thoại của ngài Thánh cung đã cử hành rất long trọng tại cung Diên Thọ

(Đăng trên Hà Thành ngọ báo, số 2480, 16/12/1935)

Huế - Đúng như tin Ngọ báo đăng trước 9 giờ sáng 12, tại cung Diên Thọ đã cử hành lễ Thượng tôn thoại cho ngài Khôn Nguyên Xương Minh Thái hoàng thái hậu để phong hiệu mới cho ngài Thánh cung sau khi ngài thăng hà.

Theo nghi chú của bộ Lễ nghi định, lễ Thượng tôn thoại đã cử hành một cách rất long trọng. Hoàng thượng cùng các ngài Từ cung Thái hậu, Nam Phương Hoàng hậu cùng các Vương thân, các đại thần, các tôn tước, văn võ đường quan, các ngài trong thích lý Nguyễn Hữu và các bà tân phi (tần phi) tiền triều, công chúa mạng phụ đều có dự lễ cả.

Đức Kim thượng bận đồ đại tang, sau khi làm lễ dâng hương, rượu, trà, quỳ dâng kim bửu, kim sách trong các lời phong tước mới cho ngài Thánh cung. Các quan Hiệp tá Hồ Đắc Khải và quan Kiêm nhiếp Tôn Nhơn phủ đại thần Ưng Bàng lãnh chức tuyên kim sách và kim bửu. Sau lễ này có đốt các tờ sao các bửu và ấn.

Lễ Thượng tôn thoại là một lễ lớn cho nên sau khi ấy có ban ấn chiếu và có một quan viên để ấn chiếu ấy đem treo tại Phu Văn lâu ba ngày và bộ Lại sẽ lục tuận (?) cho các tỉnh.

Lễ Cung Thượng tôn thoại

(Đăng trên Thanh Nghệ Tĩnh tân văn, số 72, 20/12/1935)

Huế - Tôn thoại (titre posthume) của đức Thánh cung Khôn Nguyên Thái hoàng thái hậu do bộ Lễ đặt ra là “Phụ Thiên Dực Thánh Khôn Nguyên Xương Minh Túc Từ Quảng Hậu Trang Tĩnh Nhơn Thọ Thuần Hoàng hậu”. Lễ Cung Thượng tôn thoại đã cử hành tại cung Diên Thọ ngày 17 tháng Một (11) ta (12 Décembre). Hoàng thái hậu, Hoàng thượng, Hoàng hậu, các vị đại thần, các Hoàng thân, các bà phi, các bà mạng phụ đều dự lễ.

Lễ thành, hai viên thái giám đặt kim sách và kim bưu trước linh toạ.

Sau khi đức Khôn Nguyên Thái hoàng thái hậu thăng hà

(Đăng trên Hà Thành ngọ báo, số 2480, 16/12/1935)

Hội Bắc Kỳ Phật giáo đã làm lễ siêu độ tại chùa Quán Sứ

Hà Nội – Sáng qua, hồi 10 giờ hội Bắc Kỳ Phật giáo đã làm lễ siêu độ rất trọng thể cho đức Khôn Nguyên Thánh cung Thái hoàng thái hậu tại chùa Quán Sứ. Từ ngoài cổng chùa trở vào người ta nhận thấy cắm nhiều cây phướn và cờ tang.

Đúng 10 giờ, quan Thủ hiến Bắc Kỳ cùng Tholance phu nhân đến, có ban Trị sự hội Phật giáo và một số đông quan lại đến dự lễ ra tiếp.

Sau khi các quan khách và hội viên đã an toạ thành hai hàng tả hữu, phân biệt nam giới và nữ giới, các vị sư đều bận cà sa, từ nhà Tổ tiến lên có mấy cậu bé trong ban Đồng ấu đi đầu, càm cành phướn và đèn, nến. Lại có một phường bát âm tám người bận y phục lối riêng giúp lễ.

Ban Đạo sư gồm có trên 20 người ra làm lễ trước một bàn thờ mới thiết lập dưới giảng đàn vừa mới cất xong.

Năm vị hoà thượng đi đầu đều bận cà sa mầu vàng, còn mười vị sư ông đứng thành hai hàng sau đều mặc pháp y, cổ đeo tràng hạt và mỗi người có cầm một đoá hoa sen bằng giấy, biểu hiện của nhà chùa.

Khi các vị sư quỳ đọc sớ, quan Thống sứ và các khách quan dự lễ đều đứng cả dậy, im lặng, cảnh chùa có vẻ tôn nghiêm.

Tụng niệm như thế đến hơn một tiếng đồng hồ mới xong. Chuông trống và bát âm lại đưa cả ban Đạo sư lui về nhà Tổ.

Lễ tất, quan Thống sứ và phu nhân lui về hồi 11 giờ.

Cung Diên Thọ và Tịnh Minh lâu thập niên 1920, nơi trú tất của Thánh cung và cũng là nơi diễn ra các lễ chính trong đám tang của bà.
Cung Diên Thọ và Tịnh Minh lâu thập niên 1920, nơi trú tất của Thánh cung và cũng là nơi diễn ra các lễ chính trong đám tang của bà (Nguồn: Flickr Manhhai)

Trong các ngày 20, 21, 22 décembre 1935, Thần Kinh sẽ thấy cuộc long trọng về lễ Ninh lăng của đức Thánh cung

(Đăng trên Hà Thành ngọ báo, số 2482, 19/12/1935)

Huế, 15-12 – Tin riêng của phóng viên Ngọ báo.

Hội đồng lễ nghi về dịp đức Phụ Thiên Thuần Hoàng hậu (hiệu mới của ngài Khôn Nguyên Thái hoàng thái hậu) thăng hà, họp dưới quyền chủ toạ của quan Hiệp tá Tôn Thất Quảng, Lễ nghi bộ Thượng thư và quan Đại Nội Nghi lễ đại thần Bửu Thạch. Quan Thượng thư bộ Lễ đã lần lượt dâng các “phiên” vào Đại Nội được Hoàng thượng chuẩn y cả.

Theo các phiên ấy thì các lễ sắp cử hành sẽ long trọng lắm nhưng không tốn phí nhiều cho ngân sách Chánh phủ Nam triều trong lúc kinh tế khủng hoảng này. Theo chỗ chúng tôi biết thì tất cả các số tiêu về lễ tang nghi của ngài Thánh cung không quá số 5.000 đồng. Lần này thật khác với các lần trước, số bạc tiêu về các lễ tang nghi của các vị đế hậu lúc xưa tốn ít ra cũng hai, ba vạn đồng, một vị Hoàng hậu thì tiêu hết một vạn hay hai vạn là ít.

Xin lược kể qua dưới này các lễ lớn:

Ngày 19 Décembre

8 giờ sáng lễ Khải điện có các ngài Từ cung Hoàng thái hậu, Nam Phương Hoàng hậu làm lễ điện dâng trà và đèn sáp.

11 giờ lễ “Trung điện” của các ngài Thân vương, vương phi, công chúa và lễ của ngài Phò Quang Quận công, Cố vấn nguyên lão Tôn Thất Hân.

3 giờ chiều lễ “Tổ điện” của Hoàng thượng – đức Kim thượng sẽ quỳ cúng dâng rượu, hương, trà. Trong dịp lễ này phủ Tôn Nhân, các đường quan văn võ tại triều và quan đại biểu quan lại Bắc Kỳ, các quan đại diện quan lại các tỉnh miền Nam, Bắc tại Trung Kỳ sẽ dâng các phẩm vật.

Đoạn đến các bà mạng phụ, các công chúa, vương phi làm lễ.

Lễ Di Tử cung

Sau lễ này, các quan bộ Lễ nghi và quan Đổng lý Tang nghi cùng tới cử lễ Di Tử cung. Các quan viên trước hạ “Minh tinh” để vào trong một cái hộp và các thái giám, nữ quan, các vị tôn trước đệ các kim sách, kim bửu, hương sách, hương bửu và các đồ của ngài Thánh cung thường dùng vào các hộp khác. Kế đó linh toạ và các bàn thờ đều dẹp qua các căn điện hai.

Các nữ quan sẽ cất áo quan bằng gấm vàng bao Tử cung. Quan Tổng bộ đại thần bèn tới làm lễ và dẫn các tên “dư phủ” đưa Tử cung ra điện trước.

Lễ Ninh lăng

Đúng 5 giờ sáng, các quan quân chầu chực đâu đó phải đủ mặt và chỉnh tề theo hàng ngũ.

6 giờ sáng – Hoàng hậu và ngài Thái hậu bận đồ đại tang.

Đồng thời Hoàng thượng đội mũ rơm, lưng thắt đai rơm, tay cầm gậy vông, mặc đồ vải to trắng sẽ ngự tới.

Lễ điếu tang của Pháp đình

7 giờ 30 quan Khâm sứ Trung Kỳ Graffeuil, quan Nguyên soái French cùng Văn phòng của ngài vào cung Diên Thọ điếu tang.

Còn các quan Thủ hiến các sở, các nghị viên các hội đồng và kiều dân Pháp dự lễ đều tề tựu tại cửa Chương Đức. Nam triều sẽ cử một vị đường quan tiếp các quý quan dự lễ.

Khi đức Kim thượng, các Thái hậu, Hoàng hậu cùng quan Khâm sử theo Tử cung tới cửa Chương Đức thì ngừng.

Quan Khâm sứ Graffeuil đứng ngay trước Tử cung đọc điếu văn tỏ lời phân ưu.

Sau lễ này, đạo ngự cử hành nhắm sở Vạn Vạn thẳng tới. Đạo ngự sẽ đi trong hai ngày 20, 21, sẽ nghỉ tại Nam Giao và tại chân núi Vạn Vạn.

Sáng ngày 22 sẽ làm lễ nhập Hoàng ốc.

Các quan được cử lĩnh các chức trong về lễ tang nghi

Vì quan Thượng thư bộ Lễ nghi và quan Đại Nội Nghi lễ đại thần Bửu Thạch phải mắc về việc các lễ tang nghi, quan Lại bộ Thượng thư Thái Văn Toản được cử chức tiếp tân, tiếp quan Khâm sứ và các thượng khách đi điếu tang.

Ông Trần Thanh Đạt, tham tri bộ Giáo dục được cử làm quan hướng dẫn cho quan Khâm sứ; quan Thị lang Tôn Thất Cổn tiếp các kiều dân Pháp và các nghị viên Pháp, quan Tá lý Bửu Trưng tiếp các bà. Các quan này đều là người giỏi về tiếng Pháp/

Lễ Ninh Lăng - Đức Phụ Thiên Thuần Hoàng hậu cử hành sáng hôm qua 20 Décembre

(Đăng trên Hà Thành ngọ báo, số 2485, 22/10/1935)

Từ khi tin buồn đức Thánh cung thăng hà từ cung Diên Thọ báo cáo ra ngoài thì bộ Lễ nghi Công tác lập tức sắp sửa mọi công việc về tang nghi để kịp ngày lễ Ninh lăng.

Tại xưởng Mộc Thương của bộ, Công tác ở ngay trước mặt bộ ấy phải dựng thêm mấy cái nhà tranh mới để hết được đồ dùng về tang nghi. Những thức này là những đồ đã dùng về tang nghi đức Khải Định còn để lại; nhiều thứ long sờn, sứt gẫy, vả lại những thức ấy riêng dùng vào đám tang đàn ông nên những đòn đầu rồng nay cầu phải đổi làm đòn đầu phụng v.v… (vì theo nghi lễ Nam triều thì rồng tiêu biểu về nam giới, phụng tiêu biểu về nữ giới).

Tại Mộc Thương phải mắc thêm nhiều đèn máy để có đủ sáng cho các thợ mộc, thợ sơn, thợ may, thợ mã làm việc suốt đêm ngày.

Các viên chức bộ Lễ nghi Công tác phải cắt canh coi ngày đêm, vì vậy nên công việc đâu ra đấy và tiến hành một cách mau chóng kịp ngày lễ Ninh lăng.

Ngoài ra, các viên chức bộ Công tác còn phải trông coi làm mấy cái nhà lợp tranh và trần thiết tử tế, chia ra các nơi như sau này: một lộ điện trước cửa Chương Đức, lộ điện ngọ điện gần cầu Ga, lộ điện tịch điện và trú tất ở trước đàn Nam Giao, hai tạm bằng ở hai bên cầu cửa Sĩ, tạm xá trước lăng đức Tự Đức, còn lộ điện, thể điện và nhà tiếp sứ ở trước lăng Vạn Vạn niên, tức là nơi tẩm đức Thánh cung.

Buổi sáng hôm 19 Décembre nghĩa là trước lễ Ninh lăng một ngày, vào hồi 10 giờ, các đồ tang nghi đều xếp ra giữa đường cái, trước bộ Công tác và mấy bộ khác. Các lính và đồ phu vận áo dấu tử tế, các “Đầu roi” và “Cai tấu” thì đội mũ bằng vải trắng, áo xanh viền lục, tay cầm cờ trắng để chị thị những phu khiêng đại linh dư.

Xếp đặt xong, linh dư phải rước lên cửa Chương Đức để hôm sau, tức là ngày lễ Ninh lăng đã sẵn sàng đủ thứ.

Nhiều người nói hôm ấy là rước tập, nhưng không phải, chính là các đồ tang nghi đã sơn thếp, hoặc làm lại xong, nay mang dàn cho có thứ tự để hôm lễ Ninh lăng tiện theo đồ thứ như sau này:

Đi trước tiện 10 người lính khiêng một cái bàn độc trên cắm một cái cờ vuông to bằng cái chiếu, trong đề bốn chữ; “Linh giá Ninh lăng”.

Rồi đến: 2 đội suất, 2 lọng đỏ, 2 người lính khiêng tiểu đồng kiểng, 2 lọng đỏ, 1 hương án (10 người khiêng), 1 bàn độc trên cắm chiếc cửu phụng tán (6 người khiêng), 2 toán thuyền phiên, 2 lọng đỏ, 2 toán thầy tu, 1 thực án (10 người khiêng), 1 hoà thượng, 2 lọng đỏ, 1 Phật đình (10 người khiêng), 4 lọng vàng, 1 luyến dư (cái võng) 4 người khiêng và 1 người phụ, 2 lọng vàng, 1 phụng liễn xa (2 người đẩy) – chiếc xe này do đức Khải Định sắm từ khi ngài ngự du sang Pháp. Đức Thánh cung trước vẫn năng dùng đi lại cung nọ sang cung kia.

Sau chiếc xe ấy có hai hàng mỗi hàng 4 người, cầm kiếm và đèn; án minh sinh (40 người khiêng); 1 quản vệ; 4 lọng vàng; 2 long đình (10 người khiêng); 4 lọng vàng; 2 chân án; 2 suất đội, 1 bàn độc (5 người khiêng) trên cắm một cái cờ có 2 chữ “từ nhân”, 1 bàn độc (5 người khiêng) trên cắm một cái chờ có 2 chữ “ý đức”; 2 lọng đỏ; 2 người khiêng đại đồng kiểng; 10 người cầm đoạn phiến, tiểu đăng lung, phất trần, đồ lư, võ phiến; 4 trinh thuận, linh xa (52 người khiêng); 1 quản vệ, 8 người cầm phụng thiếp, vân thiếp, phủ thiếp, á tự đăng (những thức này đều là đèn giấy hình quạt, trên vẽ hoặc phụng, hoặc mây v.v.). Đại linh dư (đòn trường 12m) 290 người khiêng, hai bên có 4 công bố, 4 quản vệ, 2 quyền suất. Rồi đến 2 á tự đăng, 1 bàn độc (6 người khiêng) trên có cắm một cái sào mắc 7 cái đèn tròn có vẽ hình sao (thất tinh đăng); 6 người cầm phủ thiếp, văn thiếp, phụng thiếp; thiên nghinh cung cái bàn (40 người khiêng), 4 lọng vàng và 2 quyền suất.

Tính như vậy tổng cộng có tới 665 người.

Trong cảnh buồn rầu tĩnh niệm, nhân dân Đế kinh đã dự lễ Ninh lăng đức Phụ Thiên Thuần Hoàng hậu cử hành một cách long trọng theo các lễ nghi của Lễ bộ Nam triều đã định trước.

Hoàng thượng và Nam Phương Hoàng hậu, sáng sớm hôm qua đã ngự tới cung Diên Thọ để dự lễ chuyển cữu; quan Khâm sứ Trung Kỳ và các hàng thượng quan của Chánh phủ bảo hộ đều có mặt lúc cử hành lễ này.

Sau khi trong thành phát súng báo hiệu, Tử cung do 100 người khiêng, trên có phủ vóc thêu phụng, từ từ rời cung Diên Thọ lần sau cùng, nơi mà ngài Khôn Nguyên Xương Minh Thái hoàng thái hậu trị vì được 20 năm.

Đức Kim thượng và Nam Phương Hoàng hậu chứa chan châu lệ, bước theo sau Đại linh dư. Đi sau hai Ngài có quan Khâm sứ Trung Kỳ và các hàng thượng quan Bảo hộ.

Đến cửa Chương Đức, nơi lính Pháp đã dàn thành hàng làm lễ chào, quan Khâm sứ Trung Kỳ có đọc điếu văn kể lại lịch sử đức Thánh cung là một bậc rất hiền hậu nhân từ, đã từng chấp chánh cho ba triều vua, mà từ nay, cái cao danh của ngài sẽ ghi trong Nam sử.

Đúng 9 giờ, Đại linh dư có 290 người khiêng ra khỏi Hoàng thành theo đường lên Nam Giao giữa cảnh buồn rầu yên tĩnh.

Hoàng gia đã làm lễ dâng cúng lần thứ nhất tại lăng chiều qua.

(Tin điện Ngọ báo hồi tám giờ rưỡi tối 20 Décembre)

Sáng 20 décembre tại kinh đô đã cử hành lễ Ninh Lăng của ngài Phụ Thiên Thuần hoàng hậu

(Đăng trên Hà Thành ngọ báo, số 2486, 24/12/1935)

Đức Kim thượng, các ngài Thái hậu, các đại thần Trung, Bắc Kỳ đều dự lễ. – Công chúng trên vạn người đứng chật các đường coi lễ. – Quan Khâm sứ Graffeuil thay mặt Chánh phủ Pháp và Đông Pháp đọc điếu văn.

Từ nay, huy hiệu của Ngài đã ghi vào quốc sử, liệt với hàng các vị Tiên đế, Hậu đã làm vẻ vang cho lịch sử nước Đại Nam.” (Trích điếu văn của quan Khâm sứ Trung Kỳ)

(Tin riêng của đặc phái viên Ngọ báo)

Huế, 20 Décembre 1935 – Sáng nay là ngày lễ Ninh lăng ngài Phụ Thiên Thuần Hoàng hậu, ngày cuối cùng của Ngài sẽ rời khỏi thâm cung, bỏ chỗ các tía lầu son, để về nghỉ ở tư lăng dưới bóng sam tùng.

Hai mươi ba năm giữ địa vị tối trọng trong tam cung lục viện trải ba triều, ngày nay ngài Thánh cung đành bỏ các kẻ chầu hầu, riêng về nghỉ tại tôn lăng nơi sườn núi tịch mịch để gần gũi vị Tiên quân xưa.

Ngày lễ Ninh lăng, quang cảnh Thần Kinh buồn biết bao. Trên kỳ đài, chiếc cờ vàng ủ rũ treo ngang giữa cột, dưới gió đông như không muốn cử động. Trời sương mù phủ toả trên dòng sông Hương, 8 cửa thành lờ mờ rêu phủ, tựa hồ cảnh vật đều muốn hợp cùng thần dân tỏ lòng buồn bực trong lúc đại tang của Hoàng triều.

Tại cung Diên Thọ

Trước 6 giờ sáng, tại cung Diên Thọ, chỗ ngài Khôn Nguyên Xương Minh Thái hoàng thái hậu thăng hà đã thấy nhộn nhịp. Các quan viên bộ Lễ nghi, các viên Tôn tước có phần việc đều theo nghi chú trước phụng trực chỉnh tề.

Ngoài sân chầu, các lính loan giá, hộ vệ, cầm các bửu trượng, ngân kiếm hai hàng dóng hầu như ngày đại lễ. Đứng ở giữa, tàn cửu phụng lung lay dưới gió. Kế đó, ban Đồng ấu của Hội Phật học bận áo cà sa, cầm phướn tụng niệm, tiếp theo có các ngài Tăng Cang Hoàng thượng, trụ trì các chùa sắc tứ bận y hậu, đội mão tỳ lũ mật viện.

Bước vào một tí, gần hiên cung Diên Thọ, bên hữu có các võ quan, các tôn trước thích lý Nguyễn Hữu – Ngó qua bên tả có các ngài Hoài Ân vương, ngài Phò quang Quận công, quan Võ Hiển Hoàng Trọng Phu, các quan Thượn thư viện Cơ mật, các quan Thượng thư Bắc Kỳ, viện Dân biểu Trung Kỳ, các đường quan. Trong mấy trăm áo thụng trắng có điểm một điểm đen, chiếc áo thụng đen của quan Thượng thư Ưng Bàng Kiêm nhiếp Tôn Nhân phủ đại thần, lĩnh chức tối trọng trong lễ Ninh lăng: chức Chấp lệnh.

Vì mấy ngàn độc giả Ngọ báo chúng tôi mạn phép lẩn vào hàng các đại thần để xem rõ trong bửu điện.

Tại căn chính nơi tiền điện, dưới ba chữ Diên Thọ cung, trước bửu toạ màn che kín, Tử cung của ngài Thánh cung để chính với ngự đạo.

Tử cung dài, cao, ngoài có một bức sô vàng bao phủ, trên có chín con phụng thêu năm mặt. Trên Tử cung, chín ngọn đèn sáp mờ tỏ kế bên hữu có thiết một án nhỏ trên để các án kinh Phật mà thường ngày ngài Thánh cung ưa đọc hoà lẫn với hương trầm, một bó hoa huệ đưa thoảng mùi thơm trong điện, điểm một điểm trắng hoà lẫn cùng các áo tang.

Xa Tử cung, một lkhoanrg hai bên trái điện chánh có các bà nội cung tiên triều, tiền triều, các bà vương phi, công chúa, mạng phụ. Sau hậu điện rền rĩ tiếng khóc than các nữ quan, các thân thuộc của ngài Thái hậu.

Trong không khí êm lặng, sáu tiếng chuông đổ báo hiệu đức Đại Nam Hoàng đế và ngài Từ cung Hoàng thái hậu ngự tới cung, các quan làm lễ nghênh giá.

Sau khi bận đồ đại tang, đức Kim thượng ngự tới chỗ lập vị.

Đoạn một viên Thái giám quỳ trước sân chầu tâu: “Tấu thỉnh Thần bạch ngự long đình.

Lễ Ninh lăng đã cử hành.

Sau lời tâu của Thái giảm, hai vị “Tôn tước” kính cẩn đệ Thần bạch và Thần chủ đem để tại long đình ngoại điện và đem thẳng ra cửa Chương Đức. Đồng thời các tôn tước khác và các Thái giám đệ các bửu, sách, minh tinh và độ ngự phù ra để tại các long đình khác.

Một vị quan bèn treo đem minh sinh trên bàn minh sinh.

Trong thời kỳ ấy, ngài Khôn Nghi Thái hoàng thái hậu, thánh thể không được vạn an, cũng ngự tới cung để đưa bạn thâm cung về Tư lăng. Khi ngài đến, đức Từ cung Hoàng thái hậu và các bà đều làm lễ nghênh giá.

Pháp đình điếu tang

7 giờ 30, sau khi qua các cửa Ngọ môn, Nhật Tinh, Nguyệt Anh, quan Khâm sứ Trung Kỳ Graffeuil, Nguyên soái French, quản đốc các đạo binh Trung Kỳ, Ai Lao vào tới cửa Thọ Chỉ, theo sau có các quan Đốc lý thành phố Huế, các quan Cố vấn tại các bộ, quan Chánh sở Liêm phóng Soguy và văn phòng quan Kỳ âm sứ.

Các quan đều mặc đại lễ, khi qua các chỗ Đại Nội có quan Tham tri Trần Thanh Đạt cung dẫn và quan Lại bộ Thượng thư Thái Văn Toản tiếp tại cửa Thọ Chỉ.

Cất chiếc mũ thêu kim tuyến, quan Khâm sứ Trung Kỳ Graffeuil nhẹ bước tới trước Tử cung nghiêng mình làm lễ.

Đoạn ngài đến đứng kề bên Hoàng thượng, gần chỗ “Ngự lập”.

7 giờ 45, quan Thượng thư bộ Lễ nghi Tôn Thất Quảng và quan Đại Nội Nghi lễ đại thần Bửu Thạch lãnh chức Tổng hộ sứ và Phó Tổng hộ sứ ra lệnh cho mấy trăm dư phu vào làm lễ và lặng lẽ vào điện để các đồ “phụng cống” hai bên Tử cung.

8 giờ đúng, sau khi xem xét kỹ lưỡng các phụng cống, quan Thượng thư Ưng Bàng cung kính đánh 3 tiếng kiểng báo hiệu tối trọng nhất trong lễ Ninh lăng.

Nhẹ nhàng, êm đềm, mấy trăm dư phu theo lệnh hai chiếc “xanh” của quan Đề đốc Chế Quang Mỹ đưa Tử cung lên ngang ngực rồi lần lần từng bước đưa Tử cung ra khỏi điện.

Tử cung qua khỏi sân chầu rồi, tới cửa Thọ Chỉ, theo sau có Hoàng thượng, các ngài Thái thái hậu, Thái hậu, quan Khâm sứ, quan Nguyên soái, các đại thần…

Lệnh kỳ đài bắn 7 phát súng lớn báo cho thần dân Đế kinh biết ngài Phụ Thiên Thuần Hoàng hậu đã ngự ra khỏi cung Diên Thọ.

Thế là ngài Thánh cung đã từ biệt lần cuối cùng chốn thâm cung mà ngài đã giữ vị tối cao trên hai mươi năm.

Ngài Khôn Nghi Thái hoàng thái hậu vì mệt nên hồi cung. Đứng giữa sân chầu, ngài đau đớn nhìn vào cung Diên Thọ, rồi trên gò má hai hàng nước mắt tuôn rơi. Ngài nhắc lại những lúc thanh xuân, chị em lo chầu đức Cảnh Tôn Hoàng đế (Đồng Khánh), 27 năm lao khổ tại điện Ngưng Hy rồi đến lúc rực rỡ trở lại Hoàng cung ngồi trên ngai báu. Nay gần lúc các ngài có tứ đại, chị em sao nỡ chia tay.

Ngài Tôn cung buồn quá, khóc hoài phải đưa tay cho các nữ quan đỡ để hồi cung.

Tử cung ngự vào Thiên linh khung cái

Tới cửa Thọ Chỉ, theo lệnh của quan Tổng hộ sứ, các dư phủ nghỉ một lát lâu để Tử cung vào Thiên linh khung cái. Cái này giống như Phụng liễn, ngoài phủ sô vàng chạm phụng.

Lễ này xong, dư phu thẳng ra cửa Chương Đức.

Tại đây, lính Pháp và lính khố vàng đóng hầu, bồng súng chào.

Bàn Thiên linh khung cái thẳng tới lô thứ làm gần cửa Chương Đức. Tại đây Tử cung bèn để vào hàng đại dư.

Lễ xong, quan Khâm sứ Trung Kỳ thay mặt Pháp đình, Chánh phủ Đông Dương và kiều dân Pháp đọc bài điếu văn bằng chữ Pháp. Đoạn, ông Hường lô Lê Quang Thiết đọc bản dịch bài điếu văn ấy bằng quốc âm. Bài dịch này làm dân An Nam cảm động. Nghe nói bài ấy do quan Chánh sở Liêm phóng Sogny, người giỏi quốc văn và Hán học, dịch.

Bản dịch bài điếu văn của quan Khâm sứ Graffeuil

Thường năm gặp tiết Thánh thọ, các quan Khâm sứ vào cung Diên Thọ này để chúc tụng đấng Mẫu nghi Nam quốc. Mà ngày này, trong khi Nam triều cử hành tang lễ, bản chức là Thủ hiến Bảo hộ cùng các quan lại Pháp lại đến đây mà kính điếu đức Khôn Nguyên Xương Minh Thái hoàng thái hậu.

Chúng tôi một lòng thành kính đối với Ngài là bậc tôn quý trang nghiêm rất xứng đáng với cái huy hiệu mà Kim thượng, sau khi ở Pháp hồi loan, đã gia tôn cho Ngài để tỏ lòng hiếu kính, và ngày mồng bảy tháng 11 này truy thượng tôn thoại cho Ngài bằng mấy chữ tóm tắt mà tỏ hết tấm lòng kính mến của Nam quốc quốc dân. Đáp lại tấm lòng kính mến của dân thì trong những khi các quan đại thần đến thỉnh cầu ý chỉ, thừa lời Ngài ban ra đều ngụ ý thương dân. Sau khi đức Hoằng Tôn thăng hà và trong lúc Kim thượng còn ở Pháp quốc, thì cái hiền trí và lịch duyệt của Ngài lại càng rõ rệt. Quốc dân đều tin kính Ngài đã làm bậc Cố vấn cho ba triều vương.

Nhưng rồi đây, giữa các lễ nghi long trọng, từ từ theo nhịp bước dư phu, linh giá Ngài sẽ một lần cuối cùng, trải qua Hoàng thành, đến Tôn lăng mà ngài đã truyền chỉ lập tại sườn núi tịch mịch ở gần lăng Tiên quân của Ngài. Cảm động thay khi vĩnh biệt này, tấm lòng tôn kính của toàn quốc nhân dân sẽ bùi ngủi theo chầu linh giá.

Ý trời như đã muốn trắp mối liên lạc Trung-Bắc lưỡng kỳ ở nơi ngài Thái hoàng thái hậu mới thăng hà, vì rằng: Buổi niên thiếu thì ngài ở Bắc Kỳ cùng thân phụ Ngài là đức Vĩnh Quốc công làm Kinh lược sứ trấn vũ xứ ấy. Sau ngài lại về ở Trung Kỳ đặng nửa thế kỷ. Tỉnh Thanh Hoá là nơi phát tường của Hoàng triều, lại là tỉnh quán của dòng Ngài là dòng Nguyễn Hữu. Nhưng Ngài thì sinh tại Thuận Hoá. Ngài ở trong cõi hoàng châu u tích, trải hơn nửa đời người chuyên tâm cầu nguyện khảo cứu thơ sử mà nhất là chăm về việc cứu tế những kẻ khốn cùng.

Sau khi đức Cảnh Tôn thăng hà, thì ngài lên ở Tư lăng, ôm lòng đau đớn dưới bóng sam tùng. Ngài ở đó trót 27 năm trời, khăng khăng một niềm hoài tưởng. Ngài ưa cái cảnh điềm tịch thâm nghiêm đó, có những cây thông lớn, sắc ủ xanh, bao bọc lấy những đám sơn điền khoản khoát. Nên cách mấy năm nay Ngài đã chọn một khoảng đất trong vùng ấy để làm nơi an giấc ngàn thu, mà trong hai ngày nữa chúng ta sẽ cúi mình làm lễ Ninh lăng cho Ngài tại đó. Sở lăng ấy gọi “Vạn Vạn” là rất đúng, vì rằng cái Bửu giám của Ngài sẽ trường lưu hậu thế Việt Nam mãi mãi.

Trong thời kỳ thối cư lâu dài đó, Ngài đã làm gương cho thiên hạ rõ tấm tinh thành, rõ lòng lạc mệnh. Cái quan niệm của Ngài đối với cái địa vị Hoàng hậu, Quốc mẫu, thật là rất cao. Xem như gặp lúc rủi ro thì Ngài yên cư giản dị, đến khi đức Hoàng tôn đăng quang, năm 1916, Ngài trở vào cung thì lại đường đường giữ ngôi Hoàng hậu của đức Tiên đế Cảnh Tôn. Khi bấy giờ, Ngài tham dự quốc chánh, thấu hiểu những lợi ích quan hệ của nước Nam, mà đến việc xã hội, tế bần thì Ngài cũng sốt sắng chăm lo một cách êm đềm mà có hiệu quả.

Những người đã được hân hạnh chầu hầu Ngài đều ghi nhớ cái vẻ đặc sắc, cái nét uy nghi đoan tịnh của Ngài mà thỉnh thoảng lại điểm nụ cười ngỏ lòng từ thiện. Ngày thấy ai khốn khổ thì đủ lòng thương, nên Ngài thường tìm phương kiếm cách để giúp đỡ cho người. Vậy nên Ngài cùng đức Tiên cung đã nhận chức Danh dự hội trưởng hội Lạc thiện. Ngài thường bàn chuyện cùng các hội viên ban Trị sự về những công việc của họ dự định và sự kết quả của hội. Ngài lại khuyến khích và tán trợ cho nữa.

Vả lại, Ngài thường theo lý giáo của đạo Phật, nên công việc Ngài làm hằng ngày đều do lòng mộ đạo. Xem như Ngài đã bảo hộ cho các đoàn thể và cá nhân chuyên về Phật học.

Những tính tốt nết hay của thần linh đã phú cho dân tộc Việt Nam đều có hiển hiện vào Thánh thể. Nay cuộc trần thế của Ngài đã mãn, dấu tích của Ngài đã ấn vào cung này, đô thành này. Từ nay, huy hiệu ngài đã ghi vào quốc sử, liệt vào hàng các vì Tiên đế, Hậu đã làm vẻ vang cho lịch sử nước Đại Nam.

Tâu Hoàng đế.

Bản chức đại diện nước Pháp ở xứ Trung Kỳ một lòng kiên thành sầu cảm, xin đem mấy lời ai điếu của Pháp đình, của quan Toàn quyền Đông Pháp đại thần, của tất cả người Pháp ở tại Huế và Trung Kỳ, mà tỏ cùng Hoàng đế. Trước khi đức Phụ Thiên Thuần Hoàng hậu vĩnh biệt chốn này là nơi mà Ngài yên vui hưởng thọ với Hoàng đế bấy lâu nay, lại là nơi truy niệm hiếu phụng ngài đời đời, bản chức xin cung kính trước thần vị tôn nghiêm và xin quả quyết cùng Hoàng đế rằng người Đại Pháp ở xứ Trung Kỳ này đều dự phân bi ai vô hạn cùng Hoàng đế và toàn quốc dân Nam Việt.

Điếu văn đọc xong, hết thảy các quan Pháp vào làm lễ. Đức Khâm mang Giáo hoàng, đức cha Chabanon cũng có mặt. Bà Graffeuil theo dự lễ tự trong cung ra, cũng tới làm lễ.

Đạo ngự khởi hành

Gần 9 giờ, đạo tiền đạo ngự khởi hành. Đi đầu đạo ngự có một cái cờ lớn đề 4 chữ “Linh giá Ninh lăng”. Tiếp đến châu ơn và nhiều long đình trong để các bửu, sách.

Đoạn giữa bàn Minh sinh, kèm sau mấy hàng dài các tiểu của ban Đồng ấu hội Phật học. Theo sau có các Đại sư các chùa lớn tại Kinh đô lần lượt tụng kinh.

Sau mấy long đình khác là bàn linh xa trong để Thần bạch và Thần chủ.

Kế đó có xe ngự và võng của Ngài thái hậu, có nhiều lính hầu.

Bàn Đại dư ở đoạn chót có đến 259 người khiêng. Bàn này cũng như kiểu thường, nhưng to hơn và các đồ đều là thêu cả. Tử cung nặng khó đi, các dư phu phải đi bước một.

Đạo ngự ra khỏi lô thứ đi ngả trước Hiển Nhân và ra cửa Đông Nam môn. Tại đây, lính tuần sát bồng súng hầu.

Ra khỏi thành, đạo ngự theo đường Paul Bert rồi qua cầu Tràng Tiền lên thẳng Nam Giao.

Trong các phố hơn vạn người chen nhau xem đạo ngự.

Tại Nam Giao

Chiều 20, đạo ngự tới lô điện trước Nam Giao. Nghỉ đó một hơm, ngày 21 đi cả. Ngay chiều tới núi Vạn Vạn, chỗ Tư lăng nghỉ lô điện cuối cùng.

5 giờ chiều 20, các ngài Thái hậu, Thái thái hậu có ngự lên lô điện Nam Giao làm lễ.

Một vị Tôn tước lãnh chức Khâm mạng Hoàng thượng, mỗi ngày làm lễ 3 lần tại các lô điện. Các triều thần theo luôn đạo ngự. – NGỌC TRẢN

Lễ Ninh lăng

Huế 22 Décembre – Tám giờ sáng nay, Nam triều đã làm lễ Ninh lăng Phụ Thiên Thuần Hoàng hậu. Có quan Khâm sứ và các quan chức Pháp dự lễ. Hoàng thượng đi theo thới xa. Các quan đại thần ở Trung và Bắc Kỳ cầm chấp phất. Trong sự im lặng, công chúng tỏ ra rất cảm động tiễn Tử cung về chỗ ngự sau cùng tại Huyền cung, núi Vạn Vạn chung quanh có rừng thông rất ngoạn mục.

Vua Bảo Đại và quần thần cùng lậy 4 lậy. Sau khi quan Thượng thư Thái Văn Toản làm lễ Đề chủ, các quan rước Thần chủ về cung Ngưng Hy là chỗ linh hồn Từ Hy sẽ được an nghỉ ở cạnh vua Đồng Khánh.

(Tin điện Ngọ báo hồi 20 giờ 45 ngày 22 Décembre)

Lễ Ninh lăng đức Phụ Thiên Thuần Hoàng hậu

(Đăng trên Thanh Nghệ Tĩnh tân văn, số 73, 27/12/1935)

Huế - Ngày 25 tháng 11 ta (20/12/1935) là Nhật kỳ Ninh lăng.

Đúng 7 giờ rưỡi buổi sớm mai, ngày ấy, thì Linh giá khởi hành.

Trước giờ đó, Hoàng thân, đại thần, ấn quan đều vận tang phục đi vào Tả trà gia, các bà mạng phụ đi vào sau điện Ninh Thọ rồi dừng cả đó để chờ đến giờ làm lễ.

6 giờ do một viên Thái giám tâu lên đức Đoan Huy Hoàng thái hậu cùng đức Nam Phương Hoàng hậu đều ngự tang phục và do một viên Thị vệ tâu lên đức Hoàng đế ngự thôi phục.

Lại do một viên Thái giám tâu xin Thần bạch ngự thăng long đình.

Đúng giờ, quan Khâm sứ cùng quan Thống binh, một quan Đại uý với quý quan văn phòng đều vào cung Diên Thọ dự lễ.

Còn các quý quan khác với một toán lính tây chờ ở cửa Chương Đức.

Linh giá bắt đầu khởi hành đi qua cửa Thọ Chỉ rồi ra đến lô điện (chỗ tạm đình) ở cửa Chương Đức, có phát 7 tiếng súng lệnh.

Đức Đoan Huy Hoàng thái hậu cùng đức Nam Phương Hoàng hậu và theo sau những công chúa, nội đình đưa đến cửa Thọ Chỉ thì trở lại.

Đức Hoàng đế ngự đi chân đưa Linh giá đến lô điện ở ngoài cửa Chương Đức, quan Khâm sứ cũng cùng đi đến đó rồi có đọc điếu văn, chờ khi Linh giá khởi hành thì ngài mới lui về.

Đức Hoàng thượng ngự về Đại Nội, Hoàng thân, vương công, đại thần, cùng văn võ ấn quan đều đưa đến lô điện ở Nam Giao mới trở lui.

Đến lô điện ở Nam Giao thì tạm đình lại, rồi sang ngày 26 (21/12/1935) buổi sớm mai, các quan đều đến Nam Giao hộ tuỳ Linh giá đi đến Tư Minh lăng.

Từ Minh lăng là nơi tục danh Cửa Sẻ, năm Khải Định thứ sáu (1921) đã định sửa sang Vạn Niên Tôn cuộc của ngài gần bên Tư lăng là lăng đức Tiên hoàng Đồng Khánh.

Đến 6 giờ rưỡi sớm mai ngày 27 (22/12/1935), đức Đoan Huy Hoàng thái hậu cùng đức Hoàng đế ngự xe điện lên Tôn lăng vận tang phục đứng trước Huyền cung, quan Khâm sứ với các quý quan cùng đến nơi Linh toạ, kính tỏ lời tri điếu một chốc rồi Hoàng đế ngự về điện Ngưng Hy tạm nghỉ.

11 giờ trưa, đức Đoan Huy Hoàng thái hậu cùng đức Hoàng đế ngự đến Linh toạ làm lễ. Các quan cũng theo vị thứ mà lễ bái, lại do những quan Khâm mạng trông xem về việc Ninh lăng.

Rồi ngự giá mới hồi loan, bá quan văn võ cũng lần lượt lui về.

Bàn Đại linh dư trong có Tử cung của Thánh cung, do 290 người khiêng. Ảnh chụp ngày 20/12/1935
Bàn Đại linh dư trong có Tử cung của Thánh cung, do 290 người khiêng. Ảnh chụp ngày 20/12/1935 (Nguồn: Flickr Manhhai)

8 giờ sáng ngày 22, tại lăng Vạn Vạn. Hoàng thượng đã đẩy tử cung Ngài Khôn Nguyên vào Huyền cung

(Đăng trên Hà Thành ngọ báo, số 2489, 28/12/1935)

Ngài Tiên cung Thái hậu, quan Khâm sứ các đại thần Trung, Bắc Kỳ đều dự lễ.

(Tin riêng của phóng viên Ngọ báo)

Huế, 23 Décembre – Qua các đường náo nhiệt thành phố, linh giá ngài Thánh cung trong hai ngày 20, 21 đã tới các chỗ tốt đẹp, tịch mịch của miền các núi xanh um thông tùng. Theo dịp bước nhẹ nhàng của dư phu, Tử cung đã dạo đến các thắng cảnh về ngả Thiên thành mà lúc sinh tiền, ngài Thái hậu ưa ngắm trong lúc thừa lương, hoặc lúc ngự chiêm bái lăng ngài tiên quân.

Trong không khí thơm tho bông (hoa) rửng, tiếng thông reo, giọng chim hót, nước suối chảy đã tạm thay các nữ ca đại nội khởi khúc âm ca sầu thảm chầu ngài Thái hậu trong khoảng đường cuối cùng.

40 giờ rời khỏi thành vua, đạo ngự quá trưa 21 mới tới chân núi Vạn Vạn. Khoảng đường dài chia làm nhiều khúc để cho các dư phu nghỉ chân ở chùa Bảo Quốc, Nam Giao, cầu Cư Sĩ. Tại các chỗ ấy đều có các lộ điện để che cái bàn đại dư, linh xa, khung cái và mỗi ngày ba buổi, các quan khâm mạng đều làm lễ điện.

Các ngài Thái hậu và Thái thái hậu, tuy nghi chú không định, mà thường ngày đều ngự lên các lộ điện, thể điện làm lễ ngài Phụ Thiên Thuần Hoàng hậu và đưa hầu vị chúa tể thâm cung.

Tại núi Vạn Vạn

Sáng 22, nhân dân đế kinh cũng như 20, đều dậy thật sớm và mới bình minh đã kéo lũ năm lũ bảy lên núi Vạn Vạn xem lễ.

Trên đường núi gồ ghề, mấy trăm xe quan lại tranh nhau đỗ tại Thiên thành, hoặc tại trước thể điện.

Quang cảnh chân núi Vạn Vạn sáng nay khác hẳn những hôm trước. Trước quạnh hiu không có bóng người, nay rộn rịp, náo nhiệt. Mấy trăm lính Nam triều, mấy trăm dư phu mặc y phục về lễ tang theo thứ lớp đóng hầu ngoài thể điện. Tại trong điện, ở giữa có các bàn linh xa, đại dư khói hương nghi ngút. Mới 6 giờ 30 mà các ngài Vương, Quận công, các đại thần lưỡng Kỳ và văn võ đường quan đều đã có mặt.

Trước mặt, thẳng núi Vạn Vạn là chỗ linh địa mà ngài Thánh cung đã lựa trước làm nơi nghỉ giấc ngàn thư.

Ngang sườn núi, lúc ngài Hoằng Tôn Hoàng đế đang trị vì, Ngài đã làm sẵn thành quách, ở trong có làm một cái tẩm sẵn. Giữa núi chia ba cấp làm theo kiểu “tam cấp bà đình” và chính tại trung tâm có đào một cái hầm dài độ 30, 40 thước, hai phần ngoài trống thiên, phần thứ ba sâu vào dưới núi Vạn Vạn. Chính tại chỗ này là chỗ Tử cung sẽ để tại đó, gọi là Huyền cung (người thường gọi là huyệt).

Trước bửu toạ

Lần theo một quan bộ Lễ, tôi qua khỏi thể điện, tới gần bửu toạ gần hầm trước Huyền cung. Trước hầm này có mấy chiếc án bọc sô vàng trên để thờ “Thần chủ” và “Thần bạch”. Hai bên có các kim bửu, kim sách của mấy lần trước ngài Phụ Thiên Thuần Hoàng hậu được tấn phong; chung quanh các cung nữ vẫn chầu hầu như lúc trước.

Cách cái án ấy mươi lăm thước, chính giữa hầm, Tử cung để giữa, dưới chín ngọn nến trắng. Xa xa cửa Huyền cung mở rộng, lạnh lùng với ánh sáng! Một ngọn đèn nhỏ, tựa hồ như đợi chủ!

Lễ Tặng tệ

7 giờ, Hoàng thượng ngự tới Vạn Vạn, một lúc sau ngài Ngôn Nghi Thái hoàng thái hậu mặc áo tím, chít khăn trắng ngự tới làm lễ. Theo sau có ba bà nội cung của vua Khải Định và các ngài Ngọc Lâm, Mỹ Lương, Tân Phong công chúa. Các đại thần và các bà mạng phụ đều làm lễ nghênh giá.

Ngài Thái thái hậu truyền đem lễ vật để trên án rồi Ngài tới làm lễ ngài Thánh cung.

Hoàng thượng, sau khi bận đồ đại tang bèn ngự tới chỗ ngự lập. Một quan bộ Lễ xướng, lễ Tặng tệ (lễ dâng lụa) cử hành. Một quan khâm mạng làm lễ thay Hoàng đế. Đoạn, quan khâm mạng dâng lên án mấy tấm lụa và sô, các ngự y sẽ đem đốt sau lễ “Bế thạch môn”.

Lễ xong, hai quan chánh, phó Tổng Hộ đệ Minh sinh và lụa để trên Tử cung.

Quan Đại Nội Nghi lễ Bửu Thạch ra hiệu, quan Đề đốc Chế Quang Mỹ phất cờ ra lệnh cho dư phu đưa cái “quách” lớn sơn đỏ xuống hầm và nhẹ nhàng để trên Tử cung.

10 phút sau, các thuộc quan về võ ban bèn đem “thôi xa” bằng gỗ để sau “mộc quách”.

Đoạn quan Tổng hộ sứ Tôn Thất Quảng, quan Phó hộ sứ Bửu Thạch, quan Chấp lệnh Ưng Bàng đều xuống hầm gần Tử cung ra lệnh đem “chấp phất” (dây) – ba quan Thượng thư, sau khi xem xét kỹ lưỡng, truyền lệnh buộc chấp phất vào thôi xa – Dây tang dài trắng, cột bao “thôi xa” vào thấu Huyền cung và luồn qua trong cái khoen đóng sâu trong Huyền cung.

Nét mặt cung kính, các quan Thượng lại gần Tử cung cúi xem lần sau cùng về “phụng thuẫn”, “toại đạo” và “chấp phất” rồi lên khỏi hầm, khi ấy đã gần 8 giờ.

Lễ điếu tang Pháp đình

8 giờ kém 5 phút, quan Lại bộ Thượng thư Thái Văn Toản tiếp quan Khâm sứ Graffeuil và phu nhân, theo sau có Nguyên soái French, quan Đốc lý Huế, các quan Cố vấn Collet, du Basty, Philip, quan Thủ hiến sở Liêm phóng Soguy và Văn phòng quan Khâm sứ. Các quan Pháp đều bận đại lễ.

Nghỉ một lúc điếu tang, quan Khâm sứ và quan Nguyên soái French bèn dâng hai tràng hoa to lớn tốt đẹp, gọi là lễ điếu của Pháp đình, mà Đông Pháp và kiều dân Pháp dâng ngài Phụ Thiên Thuần Hoàng hậu. Quan Tham tri Hường Đề lãnh để trên án rồi cất vào chỗ khác.

8 giờ sáng ngày 22, tại lăng Vạn Vạn hoàng thượng đã đẩy tử cung ngài Khôn Nguyên vào Huyền cung

(Đăng trên Hà Thành ngọ báo, số 2490, 29/12/1935)

Ngài Tiên cung Thái hậu, quan Khâm sứ các đại thần Trung, Bắc Kỳ đều dự lễ.

Lễ nhập Huyền cung

Phút đau đớn và long trọng nhất trong lễ Ninh lăng của ngài Thánh cung sắp đến. Trên gương mặt Hoàng thượng, các bà Nội cung, các đại thần đều có vẻ đau thương, ai nấy đều bùi ngùi, xuống gần thôi xa lĩnh các bổn phận trong lễ nhập Huyền cung.

Thật thảm thay quang cảnh lúc ấy! Hoàng thượng mặt đầy giọt lệ, xuống hầm đứng sau “thôi xa”, hai tay vịn vào cáng gỗ. Trước mặt là Tử cung; hai bên thì có các ngài Hoài Ân vương, ngài Quận công Tôn Thất Hân, quan Võ hiển Hoàng Trọng Phu, các quan Thượng thư Trung, Bắc Kỳ và các đường quan đang cầm dây “chấp phất”.

Trong lúc im lặng lạnh mình, bỗng một tiếng to xướng: “Kim nhĩ các thần, phụng an Huyền cung” (Giờ tốt đã đến, xin thâu thỉnh Ngài nhập Huyền cung). Tiếng xướng của quan Tá lý bộ Lễ nghi vừa rứt, không khí lại càng sầu thảm lạnh lùng.

Rồi trong khi bốn bề lẳng lặng, chỉ còn tiếng bánh xe “mộc quách” lăn trên đường “toại đạo”, tiếng ấy nghe thật thảm sầu.

Sau "thôi xa", đức Bảo Đại cúi mình, đầu đội mũ rơm để ngang thanh gỗ, đang đau đớn đẩy Tử cung tổ hậu vào Huyền cung.

Kề gần Hoàng thượng, dưới mấy trăm bộ áo tang, các vương khanh đại thần cung kính kéo dây “chấp phất”. Xe thôi xa đẩy, dây chấp phất kéo, Tử cung lần lan vào Huyền cung. Vào đúng dưới núi, tiếng dội kêu rền cả núi, tựa hồ như các sơn thần phát lệnh chào vị Mẫu nghi từ nay đã làm bạn với sơn cảnh.

Lễ nhập Huyền cung xong, Hoàng thượng ngự lên thể điện. Quan Khâm sứ cùng các thượng quan khác đều tới cáo từ.

Sau khi quan Chánh tổng hộ vào Huyền cung để dưới chân Tử cung năm thứ “ngũ cốc”, quan Thượng thư bộ Lễ truyền lệnh phá “toại đạo” và “bế thạch môn”. Trước cửa Huyền môn hai miếng đá lớn đóng kín.

Lễ này xong thì ngài Khôn Nghi Thái hoàng, Thái hậu, Hoàng thượng và các bà Nội cung tiền triều đến trước Huyền cung làm lễ bốn lạy.

Hoàng thượng lễ xong, lên chỗ ngự lập. Ngài Hoài Ân vương, quan Võ hiển Hoàng Trọn Phu bèn tới làm lễ, kế đến các quan Hiệp tá Thái Văn Toản, Phạm Quỳnh, Hồ Đắc Khải rồi tới lượt các quan Thượng thư Bùi Bằng Đoàn, Vi Văn Định, Nguyễn Khoa Kỳ, tiếp đến quan Hiệp tá Nguyễn Năng Quốc, Tôn Thất Đàn, quan Thượng thư Ưng Bàng. Rồi lần lượt các quan Tổng đốc, Tuần vũ đại biểu các tỉnh, các đường quan văn võ lễ bái.

Lễ ấy gọi là lễ An Huyền cung. Lễ xong, Hoàng thượng, ngài Thái thái hậu ngự về Ngưng Hy điện.

Lễ Đề Thần chủ và Sơ ngu

10 giờ 30, quan Thượng thư bộ Lại Thái Văn Toản, bận đại triều phục làm lễ Đề chủ. Một vị Tôn tước lĩnh chức Khâm mạng lậy thay cho đức Kim thượng. Ngồi tại trước án, tay cầm bút son, quan Thượng lại cung kính chấm một chấm đỏ trên chữ “chủ” rồi Ngài, theo phép riêng, mở Thần bạch trên “Thần chủ”. Đoạn, một quan Thái giám lĩnh lụa Thần bạch đem chôn kỹ tại một góc núi bên mặt Vạn Vạn.

Quan Thượng hành lễ xong, ra xe; lính che lọng hầu về Ngưng Hy.

5 phút sau, các quân theo đạo ngự bèn sắp lại hàng cũ để đưa Thần chủ của ngài Thánh cung về lăng ngài Đồng Khánh. Lễ này cũng long trọng như khi vua ngự. Thần chủ phủ khăn vàng do một vị Tôn tước cầm rồi đệ lên phụng liễn. Theo sau, các Thái giám, nữ quan đệ các ân bửu. Các quan hộ vệ đều đóng hầu hai bên.

11 giờ, Thần chủ tới Ngưng Hy, súng bắn 7 phát báo hiệu. Triều thần đều nghênh giá. Đoạn, Thần chủ để lên Thần Ngự liễn và ấn bửu ra hậu điện có Hoàng thượng dự lễ.

Tại hậu điện, ngài Phụ Thiên Thuần Hoàng hậu sẽ được thờ phụng gần ngài Cảnh Tôn Thuần Hoàng đế, vị tiên quân mà Ngài đã xa cách bấy lâu, nay mới được gặp lại phụng chầu như lúc trước.

Rồi các khi cúng tế trong các ngày sóc, vọng, thần linh của hai Ngài sẽ chung hưởng để bảo vệ Hoàng gia và trăm họ.

Lễ tiểu Tường của đức Phụ Thiên Thuần hoàng hậu

(Đăng trên Tràng An báo, số 169, 30/10/1936)

Đến ngày 3 Novembre, bộ Lễ nghi sẽ làm lễ Tiểu tường đức Phụ Thiên Thuần Hoàng hậu. Nhân đó, đức Bảo Đại và Nam Phương Hoàng hậu cũng làm lễ hết tang luôn.

Lễ tiểu Tường đức Phụ Thiên Thuần hoàng hậu sáng hôm 21 ta, hoàng thượng đã làm lễ trừ phục ở điện Ngưng Hy

(Đăng trên Tràng An báo, số 171, 6/11/1936)

Như tin bản báo đã đăng trong một kỳ trước, sáng hôm 21 tháng 9 ta (4 novembre), Hoàng thượng đã ngự lên điện Ngưng Hy làm lễ trừ phục (hết hạn để tang).

Lễ ấy cử hành một cách trang nghiêm và cảm động.

Đúng 9 giờ, Hoàng thượng ngự chế phục (áo tư thôi) đến trước hương án Ngưng Hy hậu điện. Lúc bấy giờ, trước sân điện, các vị Hoàng thân, các quan Cơ mật đại thần, Tôn nhân đại thần, Nghi lễ đại thần, văn vũ ấn quan và các ông Tôn tước từ tam phẩm trở lên, đều bận áo rộng đen, theo ban thứ đứng lập ban.

Trong giây phút thiêng liêng ấy, quan hữu ty trịnh trọng lên giọng xướng: "Tấu cúc cung bái". Hoàng thượng kính cẩn làm lễ bốn lạy.

Tiếp đến tiếng xướng: "Tấu: xuất thứ, dịch phục". Hoàng thượng ngự sang chái tây Tôn điện, thay chế phục, bận áo rộng đen.

Quan hữu ty lại xướng: "Tấu: phục bái vị". Hoàng thượng lại ngự đến trước hương án, làm lễ ba vái.

Sau khi lễ thành, các viên Thị vệ và các viên Thái giám đem bộ tang phục, làm lễ hiến hoá (đốt).

Chiều hôm nay, 23 tháng 9 (6 novembre), Hoàng thượng sẽ lên điện Ngưng Hy làm lễ chiêm bái, Ngài sẽ ngự lễ phục (khăn đen, áo rộng đen).

Có các vị Hoàng thân, các quan đại thần, văn võ ấn quan và các ông Tôn tước (từ tam phẩm trở lên) tuỳ bái.

Đức Đoan Huy Hoàng thái hậu ngự hành lễ tại điện Ngưng Hy trong dịp lễ Tiểu tường đức Phụ Thiên Thuần Hoàng hậu

(Đăng trên Tràng An báo, số 173, 14/11/1936)

Sáng hôm 24 tháng 9 ta (7 Novembre), đức Đoan Huy Hoàng thái hậu đã ngự lên điện Ngưng Hy hành lễ, trong dịp lễ Tiểu tường đức Phụ Thiên Thuần Hoàng hậu.

Đúng 7 giờ sáng, đức Hoàng thái hậu ngự chế phục (áo trảm thôi), đến trước Hương án Ngưng Hy hậu điện, làm lễ bốn lay. Hành lễ xong, Ngài ngự sang chái đông tôn điện, thay áo trảm thôi, bận áo luyện phục. Đoạn rồi, Ngài lại ngự đến trước hương án làm lễ ba vái.

Sau khi lễ thành, các viên Thái giám đem bộ áo trảm thôi ra trước sân điện làm lễ Hiến hoá (đốt).

Theo lễ lệ, áo trảm thôi chỉ dùng trong hạn một năm mà thôi. Sau khi cơ niên, làm lễ Tiểu tường rồi, mỗi khi tại Ngưng Hy hậu điện, có lễ lớn đức Hoàng thái hậu dùng áo luyện phục mà hành lễ.

Luyện phục cũng là áo chế, nhưng may bằng vải nhỏ và kiểu áo có ngăn hơn áo trảm thôi.

Đức Đoan Huy Hoàng thái hậu để tang đức Phụ Thiên Thuần Hoàng hậu, đến lễ Đại tường mới hết.

Trước cửa Huyền cung tại lăng Thánh cung, sở Vạn Vạn
Trước cửa Huyền cung tại lăng Thánh cung, sở Vạn Vạn (Nguồn: Hà Thành ngọ báo, số 2489, 28/12/1935)

-------------------------------

Trần Văn Hải Nam

5 ( 2 bình chọn )

Khám Phá Lịch Sử

https://khamphalichsu.com
Những quan điểm, góc nhìn về lịch sử qua các bài viết tìm hiểu, nghiên cứu, khám phá lịch sử Việt Nam, lịch sử thế giới, văn hóa Việt Nam, văn hóa thế giới

Bài viết mới

Xem thêm