Nhân vật lịch sử

Từ Cung Hoàng thái hậu - Từ tuổi thơ cơ cực đến lời sấm truyền mẫu nghi thiên hạ

Liệu trong chúng ta ở đây, có ai còn nhớ tới Từ Cung Hoàng Thái Hậu vị Hoàng Thái Hậu cuối cùng của Việt Nam – người đã sinh ra Hoàng đế Bảo Đại? Có ai nhớ về một người phụ nữ, tuy đã sinh ra Hoàng đế nhưng lại không có lấy một ngày được nuôi con, được chăm con khôn lớn…
27/05/2021 10h:19 147
Từ Cung Hoàng thái hậu - Từ tuổi thơ cơ cực đến lời sấm truyền mẫu nghi thiên hạ
Từ Cung Hoàng thái hậu - Từ tuổi thơ cơ cực đến lời sấm truyền mẫu nghi thiên hạ

Tuổi thơ cơ cực của Từ Cung Hoàng thái hậu

Từ Cung Hoàng thái hậu sinh ngày 28 tháng 1 năm 1890, tên thật là Hoàng Thị Cúc, sinh ra ở ở làng Mỹ Lợi, Thừa Thiên Huế. Phụ thân bà là ông Hoàng Trọng Tích, từng đậu Tú tài làm Tri huyện Hòa Đa, mẫu thân là La Thị Sơn. Sinh ra trong một gia đình quan Tri huyện, nhưng từ nhỏ, Hoàng Thị Cúc đã sống cuộc sống hết sức vất vả, khó khăn.

Ông bà Tri huyện mất sớm, Hoàng Thị Cúc phải sống nhờ gia đình người anh trai cả là Hoàng Trọng Khanh. Nhưng chẳng may người anh cả Hoàng Trọng Khanh lại là người ham mê cờ bạc, có bao nhiêu tiền đều ném vào hết các chiếu bạc. Vậy nên từ nhỏ bà đã phải lao động vất vả, khó nhọc để kiếm tiền. 

Lời sấm truyền về Từ Cung Hoàng hậu

Câu chuyện về lời tiên tri xảy ra khi có một ông thầy địa lý tình cờ đi ngang qua làng Mỹ Lợi, khi dừng lại ngắm thế đất ngôi mộ của phụ thân bà, ông phán: “Mộ này sẽ phát Hoàng hậu”. Khi nghe thầy phong thủy nói thế, nhiều người dân làng Mỹ Lợi chỉ cười, hoàn toàn không ngờ sau này lời phán đó sẽ linh ứng.

Sau này, khi Hoàng Trọng Khanh đã quá sa đà vào cờ bạc, nợ nần chồng chất, ông Khanh đã “bán” các em gái cho những nơi quyền quý. Bà Hoàng Thị Cúc được đưa vào làm cung nữ hầu hai bà Thánh Cung Nguyễn Hữu Thị Nhàn và Tiên Cung Dương Thị Thục – vợ góa của vua Đồng Khánh.

Cô gái nhỏ năm nào từ bây giờ sẽ phải chôn vùi thanh xuân trong cung cấm, để rồi lời tiên đoán năm xưa từng bước linh nghiệm. Từ ngày hầu hạ hai bà phi trong cung, bà bắt đầu quen biết, tiếp xúc với ông Phụng Hóa công Nguyễn Phúc Bửu Đảo, tức vua Khải Định. 

Mối nghi ngờ trong lịch sử Việt Nam

Khi bà nhập cung, ông hoàng đã có chính thất là bà Trương Như Thị Tịnh – con gái quan đại thần phụ chính trong cung. Tuy nhiên, sau này bà Tịnh đã xuất gia nên vị trí đó vẫn bỏ trống. Không lâu sau, bà Hoàng Thị Cúc đã mang thai.

Huyết thống hoàng thất là chuyện hệ trọng, đâu thể theo lời của một thị nữ mà vội vã định luận. Chuyện trộm long tráo phụng hòng lên ngôi cao vốn chẳng phải điều lạ trong cung đình các triều đại. Cũng phải nói thêm, có nhiều tin đồn rằng Phụng Hóa Công không ham gần gũi phụ nữ, bởi vậy, tuy chung sống với bà Trương Như Thị Tịnh đã lâu mà vẫn chưa có con. Chính ông, sau này khi đã lên ngôi báu cũng thẳng thắn rằng: “Nội cung của trẫm là một cái chùa, ai muốn vô tu thì cứ vô”.

Hai bà Tiên Cung và Thánh Cung đã nhiều lần tra khảo, thậm chí dùng hình bắt Hoàng Thị Cúc nằm úp bụng xuống đất và chịu đòn roi, bắt phải khai đó là thai của ai, sao lại dám đặt điều nhưng bà vẫn một mực khẳng định hài nhi trong bụng là của Hoàng tử Bửu Đảo.

Qua được ải này, đứa trẻ trong bụng bà cuối cùng cũng được công nhận, để rồi vào ngày 22 tháng 10 năm 1913, bình an hạ sinh hoàng nam Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy, tức vua Bảo Đại sau này, cũng là người con duy nhất của Phụng Hóa Công Bửu Đảo. Dị nghị về xuất thân của Vĩnh Thụy cũng dần biến mất bởi mọi người trong cung đều công nhận Hoàng tử quả thực rất giống phụ thân. 

Năm 1916, Phụng Hóa Công Bửu Đảo đăng cơ, lấy niên hiệu Khải Định. Nhờ giọt máu rồng, cung nữ năm nào được phong làm Tam giai Huệ tần, sau thăng lên Nhị giai Huệ phi vào năm 1918, đứng thứ hai Hậu cung chỉ sau bà Ân phi Hồ Thị Chỉ. Tuy đã được tấn phong, có danh phận chính thức nhưng niềm vui với Hoàng Thị Cúc lại chẳng thể trọn vẹn. Tiểu Hoàng tử ra đời chưa bao lâu, mẹ con đã chịu cảnh phân ly khi Tiên Cung Thái hậu quyết định đón cháu nội về bên cạnh, đích thân nuôi dạy.

Nguyễn triều đích – thứ phân biệt rõ ràng, tôn ti nghiêm cẩn. Hoàng tử Vĩnh Thụy là huyết mạch duy nhất của nhà vua, tôn quý vô cùng nhưng mẫu thân chỉ là thiếp thất, xuất thân không cao, lại được sinh ra trong cảnh danh không chính, ngôn không thuận, quả thực hành động chia cắt tình mẫu tử này của bà Tiên Cung là có thể lý giải. Bởi đứa trẻ này rồi đây, nhiều khả năng sẽ kế vị ngôi Hoàng đế, nắm trong tay vận mệnh thiên hạ. Mối quan hệ “mẹ chồng – nàng dâu” cũng vì thế mà trở nên căng thẳng.

Hoàng Thái hậu cuối cùng và những xung đột với nàng dâu Nam Phương

Ngày 6 tháng 11 năm 1925, vua Khải Định băng hà. Hoàng tử Vĩnh Thụy được đưa lên kế vị, lấy niên hiệu Bảo Đại. Hậu phi Hoàng thị được chiếu lập làm Hoàng Thái hậu.

Ngày 20 tháng 3 năm 1933, vua Bảo Đại tôn phong cho mẹ mình làm Đoan Huy Hoàng Thái Hậu, trong cung đình quen gọi bà là Từ Cung hoàng thái hậu hay giản gọi là Đức Từ Cung. Lúc này thì lời tiên tri của ông thầy địa lý thực sự trở thành sự thật. Vì triều Nguyễn từ triều Minh Mạng trở đi luôn tồn tại một điều luật bất thành văn, chính là không phong Hoàng hậu, chỉ mẹ của vua mới được phong Hoàng thái hậu. 

Trai lớn dựng vợ, gái lớn gả chồng, ấy là chuyện đương nhiên. Nhà vua trẻ tuổi lúc này ngỏ ý muốn kết hôn với cô Nguyễn Hữu Thị Lan (tức Nam Phương Hoàng hậu) – con gái một gia đình Công giáo giàu có, quen lối sống phương Tây. Điều này quả thực đi trái lệ cũ bao đời của Nguyễn triều, khi hôn phối được chọn lựa cho Hoàng đế, Hoàng tử đều là những cô gái xuất thân vương công, quý tộc, được nuôi dạy theo lễ điều Nho giáo.

Chính điều này làm Từ Cung Hoàng thái hậu không thể yên tâm bởi bà lo rằng cô con dâu này khó mà đảm đương những nghi thức cúng tế truyền thống của Hoàng gia. Ngược lại, thứ phi Mộng Điệp của vua lại rất được lòng Thái hậu, được bà giao áo mũ thay mặt Nam Phương đứng ra chăm lo việc cúng bái tổ tiên.

Lịch sử đã chứng kiến bao mối bất hòa giữa “mẹ chồng – nàng dâu”, thậm chí gay gắt người sống ta chết như Thái hậu Đàm thị và Huệ hậu Trần Thị Dung cuối đời Lý, hay như chính bà Từ Cung và mẫu thân vua Khải Định khi xưa, nhưng xung đột đến từ sự khác biệt trong tư tưởng văn hóa Đông Tây này có lẽ là có một không hai.

Ngẫm ra thì, chênh lệch khoảng cách thế hệ, sự trái ngược giữa cũ và mới, giữa truyền thống và tân tiến này chẳng phải rất thường gặp trong các gia đình hiện đại ngày nay sao? Bởi mới nói, sẽ thật thiển cận nếu coi lịch sử là chuyện dĩ vãng, không còn thiết thực trong cuộc sống hiện tại. 

Xem thêm: Chuyện mẹ chồng nàng dâu của Nam Phương hoàng hậu

Lá rụng về cội

Sau Cách mạng Tháng Tám, trải qua bao biến cố, con trai, con dâu, cháu nội đều đã sang Pháp sống lưu vong, Từ Cung Hoàng thái hậu vẫn luôn bám trụ lại mảnh đất quê hương, nguyện cả đời ở nơi đây để gìn giữ nơi thờ phụng các bậc tiên đế cùng các bảo vật của triều Nguyễn.

Trong những năm tháng chiến tranh diễn ra ác liệt ở cả hai miền Nam - Bắc, tiêu biểu là trận Tết Mậu Thân năm 1968, bom đạn rung chuyển xứ Huế, người ta vẫn thấy bà hằng ngày tụng kinh niệm Phật trong căn nhà 79 Phan Đình Phùng mong cho quốc thái dân an, cũng chưa từng lơ là việc cúng bái tiên tổ, kể cả khi tiền bạc gần như đã suy kiệt.

Bà từng nói: “Ta sinh ra ở đâu thì sẽ chết ở đó. Tổ tiên nhà Nguyễn còn ở Huế thì ta còn phải ở lại lo chuyện thờ cúng, chăm sóc lăng mộ các bậc tiền nhân. Nhà Nguyễn đã cho ta hưởng lộc cả đời. Ta có chết cũng chưa báo đáp hết được.”

HUẾ, tháng 5/1972 - Đức Từ Cung ngồi ở bàn trong biệt thự hai tầng của bà ở ngoại ô Huế, với vẻ trầm tư. Bà từ chối rời khỏi thành phố mặc dù có đề nghị của chính quyền Sài Gòn.
HUẾ, tháng 5/1972 - Đức Từ Cung ngồi ở bàn trong biệt thự hai tầng của bà ở ngoại ô Huế, với vẻ trầm tư. Bà từ chối rời khỏi thành phố mặc dù có đề nghị của chính quyền Sài Gòn.

Năm 1980, Từ Cung thái hậu qua đời, thọ 90 tuổi, được an táng gần Ứng Lăng tại xã Hương Chữ, Hương Thủy, Thừa Thiên – Huế. 

Bà cả đời trọng đạo Phật, trong ăn uống, sinh hoạt đều lấy giản dị làm đầu, có công lớn trong việc chấn hưng Phật giáo thời Nhà Nguyễn. Thế nhưng số phận trêu ngươi, thói đời bạc bẽo. Thuở bé đã sớm thiếu đi hơi ấm gia đình, khi về già, ở cái tuổi được hưởng hạnh phúc đoàn viên con cháu, Từ Cung Hoàng thái hậu lại không có phước phận đó, sống trong cảnh cô quạnh, trong nỗi đau dằn vặt khi chẳng thể gặp lại đứa con trai năm ấy đã liều chết mà bảo vệ.

Làm dâu hoàng gia, với Hoàng Thị Cúc là phúc hay họa? Xa con từ thuở lọt lòng, sống cảnh giường đơn gối chiếc, phu quân lạnh nhạt. Ngày tháng đoàn viên chẳng được bao lâu, con cháu lại mỗi người một phương, cách xa vạn dặm trùng dương, không thể làm tròn đạo hiếu. Bên cạnh bà lúc lâm chung họa chăng cũng chỉ còn người thị nữ thân cận bao năm. 

Trộm nghĩ, sống một đời như vậy trong gia đình đế vương há chẳng bằng gả vào nông hộ thường dân, “hầu chồng dạy con”, có được cái gọi là hạnh phúc điền viên? 

Chuyện Hậu Cung

5 ( 1 bình chọn )

Khám Phá Lịch Sử

https://khamphalichsu.com
Những quan điểm, góc nhìn về lịch sử qua các bài viết tìm hiểu, nghiên cứu, khám phá lịch sử Việt Nam, lịch sử thế giới, văn hóa Việt Nam, văn hóa thế giới

Bài viết mới

Xem thêm